Trang chủ | Thứ bảy, 25/05/2013 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 7360149
Trang chủ » Khí nhạc

VÀI KỈ NIỆM VỀ BẢN TỔ KHÚC (SUITE) CHO PIANO TẶNG ĐẶNG THÁI SƠN CỦA ĐẶNG HỮU PHÚC

Thứ sáu, 08/07/2011

Đặng Hữu Phúc

Năm 1973…

Việt Nam vẫn đang trong chiến tranh nóng.

Trường Âm nhạc Việt Nam (ÂNVN), nay là Học viện Âm nhạc QG, vừa từ Đại Mão – Hà Bắc, nơi sơ tán tránh bom B52 về Hà Nội. Lam lũ, đói nghèo.

Nếu ta kể cho thế hệ hôm nay về điều kiện sống và học tập thời đó thì chẳng khác gì kể những câu chuyện cổ tích của một thời xa xưa… họ khó mà tưởng tượng nổi.

Trường ÂNVN nằm trên mảnh đất xưa kia là nghĩa địa làng, gồm 3 toà nhà 4 tầng, một cái gọi là nhà tập, chỉ dành để học, để tập đàn, hát. Cái nhà tập ấy, mỗi tầng gồm khoảng 25  phòng nhỏ 6m2 và hai đầu nhà là 2 phòng lớn, đánh số từ P1-P27 thế hệ chúng tôi chẳng bao giờ quên: tầng 1 dành cho khoa dân tộc, tầng 2 khoa piano và thanh nhạc, tầng 3 khoa đàn dây và lí-sáng-chỉ, tầng 4 khoa kèn-gõ và accordeon.

phòng 1B nhà tập

Đặng Hữu Phúc, phòng 1B nhà tập

Thời đó rất ít khi có điện, mà hệ thống điện 220V mỗi lần muốn có đèn, có quạt thì đều phải tự nối dây điện trần bằng tay trần, rồi cũng quen.

Vì không có đủ giờ đàn piano (hồi đó phải chia giờ cho từng học sinh) để làm việc, nên buổi tối tôi thường trốn ở lại (21h là tất cả phải ra để bảo vệ khoá) và ngủ luôn trong nhà tập hàng mấy năm trời để tranh thủ tập đàn. Những đêm mưa gió sấm chớp, một mình nằm nghe hàng trăm cánh cửa kính, cửa chớp của cả 4 tầng toà nhà đồ sộ, vì không đóng kĩ, nên gió giật, đập rầm rầm như những trận bom thời ấy. Rồi những đêm rét cắt thịt thui thủi nằm một mình, đơn côi với bóng tối mênh mông đen kịt, trong cái toà nhà bị khoá kín, chỉ có tiếng muỗi và thỉnh thoảng tiếng chuột chạy…

Ngẫm lại cái thời của mình thì thấy ai cũng khố, khổ vì chiến tranh liên miên, khổ vì nghèo, khổ vì cơ cấu xã hội bất hợp lí sinh ra lắm lũ cơ hội bất tài nhũng nhiễu, và khổ nhất lại là chính chúng ta cứ mãi đố kị, làm khổ và hành hạ lẫn nhau.

“Chống tay ngồi ngẫm sự đời
Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm”

(Nguyễn Gia Thiều 1741-1798/Cung oán ngâm)

phòng 13B nhà tập

Đặng Hữu Phúc, Phòng 13B nhà tập

 

Năm 1973, tôi tròn 20 tuổi, là học sinh trung cấp vừa piano vừa sáng tác.

Và bản Tổ khúc (Suite) cho đàn piano ra đời trong bối cảnh đó. So với bản Prélude Es đầu tay viết cho piano của tôi năm1971 thì bản Suite này là một cú nhảy, bứt ra khỏi ảnh hưởng của thời Lãng mạn châu Âu, của Chopin.

Trong bản nhạc gồm 3 đoạn này, các bạn có thể thấy phong cảnh núi rừng, có thể nghe thấy tiếng đàn tính tẩu của người Tày, Nùng, tiếng khèn bè dưới trăng của dân tộc Thái, tiếng sáo Mèo và các giai điệu hồn nhiên, hoang sơ, thanh khiết, mộc mạc của vùng Tây Bắc Việt Nam. Những giai điệu này thời ấy tôi nghe và ghi âm lại từ những đĩa than 78 vòng/phút của Nhà xuất bản Âm nhạc một cách say mê, bản thân tôi lúc đó chưa được tới Tây Bắc.

Những giai điệu này có những quy luật riêng của nó, như những bông hoa của núi rừng, nó toả hương sắc theo cách của nó mà không cần biết tới bất cứ quy luật nào của cái gọi là “nhạc lý” mà chúng ta vẫn học, dùng những kĩ thuật đã có trong sách vở để xử lý nó thì nó sẽ… chết. Để hiểu nó thì không phải là phân tích, không phải là biện luận mà là chìm vào trong nó, trở thành hoà hợp với nó trong rung động từ trái tim mình. Đó là cách đi vào dân ca của tôi.

Viết xong bản Suite cho piano này, tôi đã tặng Đặng Thái Sơn với dòng chữ: “Tặng bạn Đặng Thái Sơn, chúc bạn thành công”. Đặng Thái Sơn lúc đó mới 15 tuổi và đã là một huyền thoại về tài năng piano ở trường nhạc, Sơn rất cảm động và do cũng rất quý mến tôi, nên thường biểu diễn bản nhạc này.

Tôi thỉnh thoảng có tới nhà Sơn ở 28 phố Kỳ Đồng (*), trả bài đàn piano bác Thái Thị Liên, má Sơn. Hai anh em mỗi khi gặp nhau trong trường đều hay nói chuyện âm nhạc, âm nhạc đã gắn kết chúng tôi với nhau. Ngay từ khi ấy, tôi đã thấy phẩm chất đặc biệt “giữa trần ai” trong Sơn và có linh cảm về tương lai xuất chúng của Sơn.

Ông Đặng Đình Hưng là người tham gia vào vụ Nhân văn giai phẩm. Những người như thế, cả đời họ sống khốn khổ, không những thế, tất cả những người thân của họ cũng đều bị vạ lây, Sơn là con ông Hưng thì cũng không nằm ngoài quy luật ấy, Sơn có một tuổi thơ là con “phản động”  được ghi vào lí lịch.

Như tất cả mọi người khác có lí lịch như vậy, học hết trung cấp (khoảng 1976) Sơn đã có quyết định cử đi công tác tại Đoàn Văn công Việt Bắc do ông Nguyễn Văn Thương, hiệu trưởng ký rồi. Nếu kịch bản này xảy ra, thì Sơn sẽ lên đoàn văn công đó đệm cho múa, cho hát và bây giờ chắc chẳng còn ai biết đến một Đặng Thái Sơn, một tài năng sẽ mất hút giữa đám đông, giữa cuộc đời này.

Một siêu tiềm năng, một siêu hạt mầm sẽ biến mất không còn để lại dấu vết mà chưa kịp thành đại thụ toả bóng…và đã có bao nhiêu những hạt mầm tài năng quý giá của Việt Nam bị thui chột đi theo những cách tương tự?

Nhưng riêng ở đây, may cho dân tộc Việt ta, may cho châu Á, và may cho cả thế giới, kịch bản đó đã không xảy ra nhờ có má Sơn, bà Thái Thị Liên và những người như giáo sư Nga gốc Do Thái Issac Katz, chuyên gia piano thời ấy, đã can thiệp kịp thời, Sơn đã thoát hiểm, tuy vô cùng khó khăn, để bây giờ chúng ta có tiếng đàn piano của Đặng Thái Sơn, người châu Á đầu tiên đoạt giải Chopin, một đoá hoa của trí tuệ Việt Nam đã, đang toả ngát hương trên thế giới.

Đặng Thái Sơn, người làm nên những recital piano được chờ đợi nhất của giới chuyên nghiệp ở Việt Nam, mỗi buổi hoà nhạc của Sơn là một cơn mưa hoa, một lễ hội thiêng, qua tiếng đàn của Sơn, khán giả như được thoáng nhìn, thoáng cảm nhận cái siêu việt cõi vô biên vô cùng…

Sau khi Sơn được đi học ở Liên Xô (1977), Sơn thường gửi thư, gửi quà về động viên tôi rất nhiều, những lá thư này tới nay tôi vẫn còn giữ…

Đặng Thái Sơn và thầy Issac Katz

Đặng Thái Sơn học với thầy Issac Katz (khoảng năm 1974). Phòng 1B nhà tập

 

Bây giờ tôi xin kể lại một kỉ niệm nhỏ liên quan tới bản nhạc này.

Thời đó, Hà Nội không có tiếng động cơ ô tô, xe máy, chỉ có xe đạp, rất vắng vẻ và hay mất điện. Hà Nội lúc đó được ví như một ngoại ô bị bỏ quên.

Thời đó, trong quan hệ ngoại giao với nước ngoài, mỗi khi có khách nước ngoài đến thăm Hà Nội,  ta chẳng biết dẫn họ đi đâu? Thăm quan cái gì? Thật sự chẳng có gì để họ xem ở thủ đô Hà Nội thời ấy cả. Các di tích lịch sử thời đó hoang tàn, như Văn Miếu thì bị bỏ hoang, nơi trú ngụ của những người nghèo khó, nơi giải quyết “nỗi buồn” của khách đi đường (thời đó chưa có toilet công cộng)… Và ai đó đã sáng kiến: ở trường ÂNVN có sẵn những học sinh học biểu diễn các loại đàn và hát, miễm phí. Và thế là chuyện vào thăm trường ÂNVN, với một buổi biểu diễn nhỏ của học sinh để tiếp khách là chuyện không thể thiếu của các đoàn ngoại giao đến thăm Hà Nội thuở ấy.

Tôi thỉnh thoảng cũng được chọn để biểu diễn độc tấu piano, thường tôi chơi Tổ khúc và một bản kinh điển, như một lần tôi chơi bản Appasionata của Beethoven để đón đoàn Tây Đức, lần thì chơi Concerto G dur của  M.Ravel để tiếp đoàn Pháp…

Đặng Hữu Phúc biểu diễn Suite

Đặng Hữu Phúc biểu diễn piano đón phái đoàn toán học Pháp tới thăm trường ÂNVN ngày 9/10/1974

(biểu diễn Suite cho piano và Concerto G dur của M.Ravel. Phòng 1B nhà tập)


Tào Hữu Tuệ

Giảng viên Tào Hữu Huệ đệm Piano 2 thay phần dàn nhạc, bản Concerto G dur của M.Ravel


Đặng Thái Sơn là một học sinh luôn có mặt trong các buổi biểu diễn đó, có tháng đôi lần, tôi nghĩ nó rất có ích và đã tạo nên bản lĩnh vững vàng trên sân khấu của Sơn sau này, vì được rèn luyện từ nhỏ. Điều này là cực kỳ quan trọng với người biểu diễn. Dù tài đến đâu mà ra sân khấu bị run, thần kinh không vững, không làm chủ được tiếng đàn thì cũng hỏng

Trong chương trình biểu diễn của Sơn, ngoài tác phẩm kinh điển nước ngoài, bao giờ cũng phải có một bài của tác giả Việt nam. Đó là Tổ khúc cho piano” của tôi và Biến tấu trên chủ đề Tây nguyên của Nguyễn Văn Thương, hiệu trưởng trường ÂNVN thời ấy. Hai bài này Sơn thay đổi phiên nhau lần lượt.

Một lần có đoàn ngoại giao của Mỹ tới, và cuộc biểu diễn tổ chức ở Phủ thủ tướng, hôm đó tới phiên bài của tôi.

Sáng hôm sau, gặp Sơn ở trong trường, tôi có hỏi về kết quả buổi biểu diễn tối  qua, và bài của tôi Sơn chơi thế nào? Sơn trả lời: ông Thương quyết định bỏ bài Việt nam (!)

Một số ảnh tư liệu (Trịnh Tiến chụp)

Sau khi đoạt giải cao nhất (và tất cả 5 giải phụ) tại cuộc thi Quốc tế Chopin lần thứ X . Tháng 10/1980.

Đặng Thái Sơn về thăm VN và tới thăm Đặng Hữu Phúc 6/12/1980

Đặng Thái Sơn tới thăm Đặng Hữu Phúc

ảnh 7

ảnh 8

 

Bản Tổ khúc này Đặng Thái Sơn cũng đã biểu diễn ở nhạc viện Tchaikovsky (Liên Xô cũ) năm 1980.

Tôi cũng đã biểu diễn bản Suite nhiều lần, đáng nhớ là vào tháng 11/1976 nhân kỉ niệm 20 năm ngày thành lập trường ÂNVN, và gần đây, vào tháng 9/2010 ở Cung Văn hoá Hữu nghị Hà Nội trong chương trình “Con đường âm nhạc” do VTV1 tổ chức, truyền hình trực tiếp.

Hiện nay bản này thường được dùng làm bài tốt nghiệp cao học piano trong các nhạc viện ở VN và cũng được các thí sinh Việt Nam chọn làm tiết mục để tham dự cuộc thi piano quốc tế tại Việt Nam.

Mời các bạn nghe bản DEMO do tác giả chơi và xem tổng phổ tại đây. Khi nào có điều kiện ghi âm tốt hơn sẽ giới thiệu với các bạn.

(*)Chú thích: Xin được tả qua về ngôi nhà 28 phố Kỳ Đồng, nơi sinh ra và lớn lên của Đặng Thái Sơn, nay đổi là phố Tống Duy Tân, nằm ở khu phố ẩm thực Cấm Chỉ - Cửa Nam trung tâm Hà Nội.

Thời Pháp những biệt thự thường là nơi ở của 1 gia đình. Sau khi tiếp quản Thủ đô, chính quyền mới tịch thu sung công và phân cho nhiều gia đình cùng ở, một toà nhà có bao nhiêu phòng thì có bấy nhiêu gia đình được phân, có khi là hàng chục gia đình với dăm bảy chục người đến ở, tình trạng này vẫn kéo dài nguyên trạng cho tới bây giờ và hầu như tất cả những biệt thự thời Pháp nay đã bị biến dạng vì cơi nới, nhếch nhác đến thảm hại, trừ một số biệt thự đẹp nhất phân cho gia đình các đ/c lãnh đạo cao cấp ở thì vẫn giữ nguyên được vẻ cao sang quý phái.

Ngôi nhà 28 phố Kỳ Đồng là một biệt thự nhỏ, không có vườn, cũng được phân cho nhiều hộ, trong đó có gia đình của Đặng Thái Sơn gồm 5 người (Đều là những người nổi tiếng như: ông Đặng Đình Hưng, Bà Thái Thị Liên, và 3 người con với cậu bé út Đặng Thái Sơn) được phân cho ở 1 phòng, rộng khoảng 25m2 trên tầng 3.

Nhiều học sinh piano của trường nhạc thuở ấy đã đến học ở căn phòng này, tôi cũng vậy và vẫn nhớ: trên chỗ ngoặt cầu thang từ tầng 2 lên tầng 3, trong bóng tối có một người bị bệnh lao ngồi bất động trên một cái nghế ở đấy, im lìm như một bóng ma…

Căn phòng của gia đình Sơn có cửa sổ, ngoài cửa sổ phía dưới có một cái ô văng che mưa của cửa sổ nhà dưới tầng 2. Cái ô văng này chiều dài khoảng 1,5m rộng 0,5m phủ đầy rêu trơn, nhất là trời mưa ẩm nếu trèo ra đó rất dễ trượt ngã xuống đất… chết ngay, vì người ta làm ra chỗ đấy không phải là cái chỗ để bất cứ ai trèo ra. Vậy mà Sơn trèo ra đấy thường xuyên, vì Sơn có một cái chuồng gà đặt ở đấy, để tranh thủ diện tích nuôi gà lấy trứng, cải thiện bữa ăn. Nhiều lần tôi đến học đàn đã chứng kiến cậu bé Sơn trèo qua cửa sổ xuống cái ô văng ấy để cho gà ăn và lấy trứng. Bây giờ nghĩ lại vẫn thấy rờn rợn…

Một thời mà vài quả trứng gà có thể đổi mạng người.

Ý kiến bạn đọc

Tuyết Hạnh

Cảm ơn Ns. Dặng Hữu Phúc đã có bài viết đọc rất xúc động gợi lại những năm tháng khó khăn của dân tộc.

Tôi thích nhất là đọc tới phần CHU THICH của Ns. Chúc Ns khỏe và có thêm nhiều tác phẩm hay

Phan Nghĩa

Nghệ sĩ Đặng Thái Sơn (ĐTS) không phải là người Châu Á đầu tiên đoạt giải Chopin, chính xác hơn, anh là Người Châu Á đầu tiên đoạt giải nhất. Người châu Á đầu tiên đoạt giải Chopin là pianist Fou Ts’Ong người Trung Quốc ( giải ba năm 1955, cùng tham gia Ban Giám Khảo với ĐTS trong kỳ thi năm 2010). Sau đó một pianist Trung Quốc khác là Li Min-chin đạt giải tư năm 1960 và một số người Nhật nữa.

Qua bài viết của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc, được biết con đường NS ĐTS đã trải qua, tôi rất cảm động và tự hào vì trong hoàn cảnh khó khăn, bị kìm hãm đủ điều mà anh vẫn vươn lên đạt đỉnh cao của nghệ thuật, là niềm tự hào chung cho Việt Nam ta. Tôi còn biết thêm được sự kiện là khi anh sang dự cuộc thi Chopin ở Ba Lan ,anh đã không được Đại Sứ Quán Việt Nam đón tiếp, và chỉ khi biểu diễn trong concert chung kết, anh mới được may một bộ vét mới…

Hoàng Nam

Cũng như các bạn, tôi rất tự hào là Việt Nam ta có một nghệ sĩ như Đặng Thái Sơn. Nhưng qua những gì mà Nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc mô tả, có lẽ anh thành công chủ yếu là do bản thân mình và người mẹ. Công đào tạo là do nước ngoài và đem lại vinh quang cũng do một cuộc thi quốc tế. Có bao nhiêu tài năng trẻ đã bị thui chột do hoàn cảnh và những điều sai trái trong quá khứ ở Việt Nam. Con cái trong trắng có tội tình gì mà lại phải chịu những việc bố mẹ làm, chưa nói rằng những việc qui cho Nhân văn giai phẩm, trong đó có ông Đặng Đình Hưng phần lớn là chụp mũ, như trước khi mất, nhà thơ Tố Hữu đã trối trăng (ăn năn đà quá muộn) trong một tài liệu hiện nay được lưu hành không chính thức do Trần Hoa Khanh tường thuật?

Nguyễn Đình Đăng

1) Giải nhất cuộc thi Chopin mà Đặng Thái Sơn đoạt năm 1980 là thành tựu của Nhạc viện mang tên Tchaikovsky của Nga, nơi ông Sơn theo học 3 năm trước khi đoạt giải, và các giáo sư Nga của ông. Tất nhiên, trước hết đó là kỳ tích của cá nhân ông Đặng Thái Sơn, và còn là của các cụ thân sinh ra ông Sơn là cụ ông Đặng Đình Hưng và cụ bà Thái Thị Liên. Trường âm nhạc Việt Nam (nay là HVANQGVN) đã có công đào tạo Đặng Thái Sơn trong những năm ông học sơ cấp và trung cấp piano tại Việt Nam. Trong bài “Không cần mạ vàng cho hoa huệ“[1] chính Đặng Thái Sơn đã nói như sau: “Tôi bắt đầu đi học khi Việt Nam có chiến tranh, và điều kiện học tập không hề chuyên nghiệp. Tôi đến Maxcơva vào năm 1977 và chỉ được có 3 năm để trở thành một nghệ sĩ dương cầm thực thụ. Đó là một khoảng thời gian ngắn không thể tin được. Sau khi tôi thắng cuộc, tôi quyết định quay về học. Thông thường, người ta bắt đầu sự nghiệp sau khi đoạt giải. Còn tôi thì chỉ cảm thấy là mình chưa sẵn sàng. Và tôi không cảm thấy sẵn sàng cho mãi đến tận năm 1986.“

Đó là chưa nói Việt Nam lúc đầu còn bác bỏ đề nghị của giáo sư Isaac Katz cho Đặng Thái Sơn sang Nga học (37 năm trước, GS Isaac Katz, trong khi sang Việt Nam dạy piano, đã phát hiện ra tài năng của Đặng Thái Sơn). Lý do rất đơn giản: cha của Sơn là cụ Đặng Đình Hưng – một nhân vật của Nhân Văn – Giai Phẩm. “Giáo sư Isaac Katz yêu cầu lần thứ hai, kèm theo lời đề nghị này là thái độ khó khăn với những du học sinh con ông cháu cha, thiếu khả năng thật sự. Ông tạo một sức ép đủ mạnh để người học trò ông chọn phải được dạy dỗ đến nơi đến chốn”[2]. Trong thư gửi cho cha mình, Đặng Thái Sơn viết: “Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vac-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-tan-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ… Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có – Con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp được Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…”[3]

2) Cuộc thi Chopin có 5 giải. Ngoài những người Trung Quốc, trước năm 1980 người Nhật đã từng đoạt giải tại cuộc thi này, cụ thể là:

giải tư: Hiroko Nakamura (năm 1965),

giải nhì: Mitsuko Uchida (năm 1970).

Mitsuko Uchida hiện là nữ nghệ sĩ piano nổi tiếng thế giới và có repertoire khá rộng từ Mozart, Beethoven, Schubert, Schumann, Chopin, Debussy, tới Schoenberg.

--------------------------

[1] Xem: http://ribf.riken.go.jp/~dang/Lily.htm

[2] Hoàng Khởi Phong, Đặng Thái Sơn: công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy, talawas 29/3/2005. Chú ý: bài của Hoàng Khởi Phong có một số chi tiết sai, ví dụ ĐTS sang Nga năm 1976 (thực ra là năm 1977), khi đi thi Chopin ĐTS đã tốt nghiệp nhạc viện Tchaikovsky (thực ra khi đó ĐTS là sinh viên năm thứ 3), ĐTS được cấp học bổng 60 rúp một tháng (thực ra học bổng của tất cả sinh viên Việt Nam học tại Liên Xô thời đó là 70 rúp một tháng), v.v.

[3] Theo Thế Giang, Cay đắng nở hoa. Chú ý: Thế Giang đã nhầm khi viết rằng GS Natanson đã sang Hà Nội. Người sang Hà Nội năm 1974 và phát hiện ra ĐTS là GS Isaac Katz.

(Xem Nguyễn Đình Đăng, "Chuyên nghiệp ... nghiệp dư và cách đưa tin mập mờ" tại

http://nguyendinhdang.wordpress.com/2009/10/10/chuyen-nghiệp…-nghiệp-dư-va-cach-dưa-tin-mập-mờ/ )

Hoàng Nam

Cảm ơn ông Nguyễn Đình Đăng đã đưa ra những chi tiết cụ thể minh họa cho những ý kiến của tôi. Tôi chỉ có thể một đính chính nhỏ rằng, trong các cuộc thi Chopin, số lượng người được giải có thay đổi vài lần, cũng như thể lệ chung của cuộc thi, lần thứ nhất chỉ có 4 giải, lần thứ hai 15 giải, lần thứ ba 13 giải, lần thứ tư 12 giải, lần thứ năm 10 giải, từ lần thứ sáu đến lần thứ 15 là 6 giải, chỉ có lần cuối cùng gần đây là 5 giải.

Ông Nguyễn Đình Đăng còn đưa ra một chi tiết quan trọng, đó là nghệ sĩ Đặng Thái Sơn (ĐTS) đã biết mình bỏ lỡ  một dịp „có một không hai” để tiến xa hơn nữa. Anh đã nhận định: „Thông thường người ta bắt đầu sự nghiệp khi đoạt giải. Còn tôi thì chỉ cảm thấy mình chưa sẵn sàng. Và tôi không cảm thấy sẵn sàng cho mãi đến tận năm 1986”. Anh đã không làm được hai  điều mà các thí sinh được giải nhất đã làm: được học hỏi thêm các bậc tiền bối gạo cội (lúc đó chủ yếu ở phương Tây) và có những hợp đồng lớn ngay sau khi đoạt giải. Mặt khác, cho dù có muốn thế đi nữa, ĐTS cũng không thể làm được những điều đó do lý lịch „bất hảo” và lại đang ở trong „thành trì” của sự trì trệ. Đến tận những năm cuối tám mươi, ĐTS còn không được đi Mỹ để nhận giải thưởng giành cho mình. Biết bao người VN phải bỏ mạng trên biển trong những năm tám mươi chỉ vì muốn sang miền „đất hứa” phương Tây…

Phan Nghĩa

Từ kỳ thi thứ năm đến kỳ năm 2005, cuộc thi Chopin có 6 giải. Chỉ từ năm ngoái mới đổi thành 5 giải. Tôi còn nhớ khi tôi hồ hởi thông báo về kết quả cuộc thi năm 1980 cho ĐSQ, một cán bộ ngoại giao đương thời đã nói dửng dung: "Có gì đâu, nghe loắng toắng như thế thì nghe đàn bầu của ta còn thích hơn".

Cho đến giờ tôi vẫn nghĩ, tại sao nghệ sĩ Đặng Thái Sơn sau đó lại đổi thày là Vladimir Natanson, người đã dạy anh những năm đầu tại học viện Tchaikovsky và góp phần không nhỏ vào thành công của anh trong cuộc thi Chopin thủa ấy?

Nguyễn Đình Đăng

Đính chính:

Cuộc thi Chopin bao giờ cũng có 6 giải.

Xem: http://en.wikipedia.org/wiki/International_Chopin_Piano_Competition

6 giải của cuộc thui lần thứ 16 (2010) được quy định là:

  • First Prize 30,000 € and gold medal
  • Second Prize 25,000 € and silver medal
  • Third Prize 20,000 € and bronze medal
  • Fourth Prize 15,000 €
  • Fifth Prize 10,000 €
  • Sixth Prize 7,000 €

(Xem http://konkurs.chopin.pl/en/edition/xvi/rules/836_prizes ) nhưng không có ai đoạt giái 6.

Xem:

http://konkurs.chopin.pl/en/edition/xvi/verdicts/1978_wyniki_konkursu

Thuận Yến

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, một nhạc sĩ giỏi và đầy tình nhân hậu, người Hiệu trưởng có nhiều công với Trường nhạc nói riêng và nền âm nhạc VN nói chung, chắc chắn khi ký vào quyết đinh đưa Đặng Thái Sơn lên công tác tại Đoàn Văn Công Việt Bắc, không phải là tự ông nghĩ ra mà là do chính  sách chung thời ấy. Cuối cùng ĐTS đã gặp may không phải lên Việt Bắc, còn những học sinh giỏi các lứa trước anh đã phải ngậm ngùi đốt cháy tài năng trên vùng đồi núi xa xôi. Đó đâu có phải là trách nhiệm của Giáo Sư Thái Thị Liên, đương kim Trưởng khoa piano lúc đó? Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương cũng không có cớ gì để phải cố ý không cho một học sinh trung cấp trình diễn  một tác phẩm của một nhạc sĩ trẻ mới vào nghề. Việc thay đổi chương trình chắc do những nguyên nhân khác (như thời gian chẳng hạn).

Cụ Đặng Đình Hưng đã bị chụp mũ oan, nhưng chính cụ cũng đã lựa chọn theo con đường mà dân tộc  ta đã đi, đã từng là đảng viên phụ trách tuyên huấn với bài hát „Nông dân là quân chủ lực…” (Xem Chiều chiều Cát bụi chân ai của Tô Hoài). Cơ chế  mà ta lựa chọn đã đem lại những hậu quả không tốt. Cái đó đã rõ. Nhưng tránh có cách nhìn một phía. Cơ chế cũ đã làm hại không ít thế hệ cha ông, mà còn làm thế hệ con cháu trong trắng cũng bị ảnh hưởng theo. Một nhóm học sinh Trường nhạc không còn nhỏ chơi chạy đuổi nhau thời sơ tán. Đuổi theo một người bạn, một đứa hô lên: „Mày là con nhà nhân văn giai phẩm!”. Đứa khác thì hô: „Đánh bỏ mẹ mày đi, thằng con nhà phản động’. Nhiều năm sau đó, họ đã gặp lại nhau ở thủ đô Paris hoa lệ và đã phải ngượng ngùng xin lỗi nhau. Ít nhất thì cũng được một lời xin lỗi…

Thành Vinh

Đọc bài viết của Nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc và một số ý kiến của các bạn đọc, tôi có cảm giác như nghệ sĩ Đặng Thái Sơn, do sự nỗ lực chính của bản thân và công sức của bố mẹ mà đã thoát ra khỏi một chốn khổ ải mà những sự bất hạnh rình rập từ mọi phía, nhờ sự tác động từ nước ngoài mà „thoát hiểm” để vươn lên đỉnh cao chói lọi. Là một người đã trải qua tất cả mọi thăng trầm của dân tộc như bất cứ người Việt Nam nào khác, tôi mong các bạn đừng coi mình chỉ là nạn nhân của đất nước mà mình đã sinh ra và lớn lên. Khó khăn đến mức cùng cực về cả vật chất lẫn tinh thần đều có, do hoàn cảnh lịch sử và cơ chế mà ta đã lựa chọn, nhưng ta đã sinh ra và lớn lên trên đất này. Thử hỏi không có những năm tháng học tập ở Trường Nhạc, NS Đặng Thái Sơn đâu có đủ kiến thức để tiếp thu những điều  mà các thày ở Học viện Tchaikovski đã dạy để thành tài? Nếu ta không có quan hệ hữu nghị với Liên Xô cũ, làm sao GS Isaac Katz lại có mặt được ở VN để biết được tài năng của ĐTS, và sau đó lại có học bổng để anh đi học? Ở đây cần nói thêm rằng, trong năm của ĐTS không có „con ông cháu cha” nào rình rập chỗ đi học của anh. Năm đó chỉ có hai suất, không ai phủ nhận việc anh xứng đáng được đi học. Cái khó là ở chỗ „lý lịch” của anh. Do sự cố gắng của mẹ anh tìm sự can thiệp của cấp trên mà anh đã được đi học. Giả sử nếu anh không đi thì ta sẽ mất suất học bổng đó chứ không có ai đi thay cả.

ĐTS phải trèo qua cửa sổ để lấy trứng gà không quản đến nguy hiểm, nhưng lúc đó biết bao gia đình không mơ được có một miếng cơm ngon, chưa nói đến quả trứng, bao thanh niên lứa tuổi anh đã phải ngã xuống, trong đó không ít người nhiều tài năng trong các lĩnh vực khác (xem Mãi mãi tuổi hai mươi), không chỉ riêng trong lĩnh vực âm nhạc của ta? Biết bao gia đình không đủ manh áo, nhà tranh vách đất, đâu có được một căn hộ 25 mét vuông ở giữa phố phường Hà Nội?

Phan Nghĩa

Đọc ý kiến của ông Nguyễn Đình Đăng, tôi có ấn tượng sâu  sắc với bài viết của ông mà ông trích dẫn: Gặp lại Đặng Thái Sơn ở Nhật Bản. Qua bài viết, biết ông là một nhà vật lý, tôi lại càng khâm phục vì ông đã bình luận như một nhà phê bình âm nhạc thực thụ: có tình có lý, ý kiến chuẩn xác, không rơi vào dùng các từ hoa mỹ sáo rỗng. Viết về ĐTS, nhưng ông cũng không quên nhắc đến những nghệ sĩ trứ danh cũng đã từng được giải Chopin (trừ Evgeni Kissin)…đã từng biểu diễn trước ĐTS trong một phòng hòa nhạc có tên tuổi, và „Huy chương vàng của cuộc thi âm nhạc Chopin là kết quả của niềm say mê, tài năng, là lao động không mệt mỏi của ĐTS, và có thể cả một chút may mắn của số phận, mà chỉ đến với những ai được số phận lựa chọn” (Phần trong ngoặc kép là trích dẫn từ bài của ông NĐĐ). Ngay cả bài dịch Không cần mạ vàng cho hoa huệ và bình thêm của ông cũng rất „nghề nghiệp”, mà chắc ông chỉ khiêm tốn xếp mình vào „nghiệp dư”, vì nghề chính của ông là nhà vật lý…

Nhân dịp NĐĐ đưa ra liên tưởng của một khán giả ở Dubna ví các âm thanh của ĐTS như những hạt cơ bản, tôi cũng mạn phép ví các nghệ sĩ chơi nhạc cổ điển như những hạt quark. Nhạc cổ điển tuân theo những qui tắc tương đối chặt chẽ, do phong cách của tác giả và thời gian xuất hiện tác phẩm tạo ra (vì thế đôi lúc còn gọi là nhạc bác học). Người biểu diễn trước hết phải tuân theo những qui tắc này (xem phần tranh luận lý thú giữa Albert Einstein và nhà thơ Ấn Độ cũng được giải thưởng Nobel Rabindranath Tagore trong cuốn sách của Abraham Pais: Eintein lived here). Nghệ sĩ biểu diễn nhạc cổ điển lão luyện phải biết „bơi tự do” trong những qui tắc đó, cũng như các hạt quark bị „giam  cầm” trong các hạt cơ bản, những lại có „tiệm cận tự do”. ĐTS không „phang thật mạnh những nốt „forte” mà „toàn bộ bố cục vẫn giữ được độ tương phản”. Ông đã „tự do” trong phong cách riêng của mình nhưng không vượt ra qui tắc của nhạc cổ điển.

Người ta thường nói, một nhà nghiên cứu chân chính là người nỗ lực mở rộng biên giới lĩnh vực của mình những không bao giờ nhảy qua biên giới đó cả. Thật buồn khi thấy những nhà biểu diễn piano trẻ bây giờ hay „phang” loạn xạ, tay vung lung tung (như Arturo Michelangeli đã từng ví với „bắt bồ câu đang bay”), muốn tỏ ra là sành sỏi trong kỹ thuật, „tự do” trong biểu diễn, tưởng như „tạo ra phong cách mới”, nhưng thực ra làm méo mó cao độ các tác phẩm cổ điển tuyệt vời.

Minh Hải

Tôi thấy Đặng Hữu Phúc không nên lấy cái hiện tại để xem xét quá khứ và lên án nó. Hãy để quá khứ ngủ yên như những kỷ niệm đẹp của một thời . Đọc bài này của anh tôi thấy buồn,khác hẳn những bài anh viết dịp kỷ niệm ngày thành lập Nhạc viện Hà Nội. /

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác