Trang chủ | Thứ sáu, 18/04/2014 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 9569424
Trang chủ » Luận bàn

NÓI VỀ CA KHÚC VÀ THƠ PHỔ NHẠC

Thứ hai, 06/06/2011

Phạm Duy

nhac si pham duy

Nhạc sĩ Phạm Duy

Vào năm 1970, nhà xuất bản BORDAS, Paris-Montreal cho ra đời một cuốn sách nhan đề LA LITTÉRATURE EN FRANCE DEPUIS 1945. Các tác giả là Jacques Bersani, Michel Autrand, Jacques Lecarme, Bruno Versier... đã cho rằng từ năm đó trở đi, Văn Học Pháp Quốc không phải chỉ là thơ, tiểu thuyếtkịch bản mà thôi. Vào thời đại này, trong văn học phải kể thêm truyện trinh thám, truyện bằng tranhca khúc.

 

Riêng về ca khúc, người ta nhận định rằng: sau thế chiến 2, vì sự góp mặt của các thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ như Jacques Prévert, Boris Vian, Joseph Kosma, Georges Brassens, Charles Trenet v.v... ca khúc (chanson) của nước Pháp phải đi vào văn học sử bởi vì nó đã không còn là một thứ nghệ thuật yếu kém (un art mineur) nữa rồi. Thơ Prévert được phổ thành ca khúc và rất thành công cho nên vào lúc đó triết gia Jean Paul Sartre làm lời ca cho bài La Rue Des Blancs Manteaux, nhà thơ Raymond Queneau soạn lời cho ca khúc Si Tu T'imagines. Georges Brassens thì đem thơ Victor Hugo, Paul Fort ra phổ nhạc. Léo Ferré phổ thơ Aragon và Hélène Martin phổ thơ Jean Genet... Trong sách, có nói rõ về chỗ đứng của ca khúc : En quelques années, la chanson est devenue intelligente, humoristique, sensible, satirique, enfin intéressante. La chanson a pénétré dans toutes les couches sociales. (...) Elle fait partie de notre vie quotidienne. Biên giới giữa ca khúc và  thơ gần như không còn nữa. Nhạc còn làm cho thơ (hay lời ca cũng vậy) đi nhanh vào lòng người.

Bây giờ ta nói đến Văn Học Sử Việt Nam. Phần nhiều nó là những thi phẩm được hát lên như TRUYỆN KIỀU, LỤC VÂN TIÊN với lối kể Kiều và nói thơ Vân Tiên. Dân chúng thường biết đến văn chương thi ca qua hình thức ca ngâm cho nên tác phẩm thường có thêm chữ NGÂM hay chữ CA vào, ví dụ CHINH PHỤ NGÂM, CUNG OÁN NGÂM KHÚC, GIA HUẤN CA. Còn HÁT Ả ÐÀO thì hoàn toàn là thơ của những thi sĩ lỗi lạc như Tú Xương, Nguyễn Khắc Hiếu v.v... Ta có thể nói văn học Việt Nam của thời trước là những ca khúc ngắn hay những ca khúc dài.

Trong Nhạc Sử Việt Nam, kể từ khi có Tân Nhạc để thay thế cho Cổ Nhạc, ca khúc dù là những đoản khúc hay những trường ca, dù sử dụng nhạc ngũ cung của dân tộc hay đi theo đường lối nhạc chủ âm của Âu Mỹ... ca khúc đều đã đóng một vai trò rất lớn. Nó có một chỗ ngồi rất vững trong lòng người, không phải là một mà tới ba, bốn thế hệ. Chẳng cần phải nghiên cứu kỹ càng, ta cũng thấy rằng trong 50 năm qua, nhạc điệu của ca khúc Việt Nam mỗi ngày một phong phú thêm, lời ca mỗi ngày một trí thức hơn, mỗi thời đại, mọi tình cảm đều được diễn dịch qua hàng ngàn ca khúc của hàng trăm tác giả, từ Lê Thương, Ðặng Thế Phong qua Văn Cao tới Trịnh Công Sơn... Và nếu thế hệ nhạc sĩ đương thời hay tương lai rất giỏi về nhạc lý, về nhạc thuật, chịu bỏ công ra để soạn phần hoà âm, phối khí mới mẻ cho những ca khúc cũ của các bậc cha chú thì nhạc Việt Nam chắc chắn sẽ không thua nhạc cổ điển hay tân thời của Âu Mỹ đâu ! Hơn nữa, vì hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của nước ta cho nên nhạc Việt còn có rất nhiều sự sống mà chưa chắc nhạc cổ điển hay nhạc tân kỳ của Âu Mỹ có thể có được.

Khởi sự là một người soạn ca khúc, rồi không hề có một mặc cảm nào cả, tôi cứ mãi mãi là người soạn ca khúc bởi vì sau khi đi học ở Pháp về và nhìn vào tình trạng sinh hoạt âm nhạc ở nước mình thì tôi thấy không thể đi vào con đường nhạc thuần túy như nhạc cổ điển Tây Phương được. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ rằng nếu tiếp tục soạn ca khúc thì phải thăng hoa nó lên, nghĩa là phải làm sao cho cả hai phần nhạc và lời càng ngày càng tiến bộ. Nghĩa là vào lúc cuối đời, làm sao nhạc của mình có thể tiến dần tới cõi giao hưởng mà hình như mọi người đều coi là cái đỉnh của nghệ thuật âm thanh và làm sao cho lời ca của mình có thể được cho vào văn học sử.

Ca khúc của tôi, như mọi người đã biết, về phần lời ca, đa số là do tôi soạn, còn một số là những bài thơ đã nổi danh hay chưa ai biết tới khi được tôi phổ nhạc. Lý do tôi thích phổ thơ cũng rất là giản dị. trước hết, tôi yêu thơ từ ngày còn bé. Lớn lên, tôi có nhiều bạn là thi sĩ làm thơ hay và làm cho tôi càng yêu thơ hơn lên. Cuối cùng, tôi có một người tình rất yêu thơ tiền chiến và làm 300 bài thơ tình tặng tôi.

Hành trình phổ nhạc những bài thơ hay của tôi xét ra cũng thật là dài. Khởi sự với thi phẩm của những thi sĩ đã thành danh như Cô Hái Mơ> của Nguyễn Bính (1942), rồi tới Tiếng Thu (1945) rồi sau đó là Vần thơ Sầu Rụng, Hoa Rụng Ven Sông, Thú Ðau Thương của Lưu Trọng Lư. Tôi đến với Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ vào năm 1952, với Ngậm Ngùi của Huy Cận và với Chiều của Xuân Diệu vào đầu thập niên 60. Những bài thơ của các thi sĩ lớn khác như Mầu Thời Gian của Ðoàn Phú Tứ, Tỳ Bà của Bích Khê, Con Qùy Lại Chúa Trên Trời của Nhất Tuấn cũng được tôi đem vào nhạc trong những ngày xa xưa đó.

Ngoài việc phổ nhạc những bài thơ đã trở thành thơ cổ điển của nền THƠ MỚI, vào những năm 60, tôi là người đóng góp vào việc phổ biến những bài thơ tình của lớp thi sĩ trẻ vừa mới được in ra hoặc chưa ai biết tới như : Kiếp Nào Có Yêu Nhau, Ðừng Bỏ Em Một Mình của Hoài Trinh, Mùa Thu Paris, Tiễn Em, Kiếp Sau, Bên Ni Bên Nớ, Về Ðây, Chiều Ðông của Cung Trầm Tưởng, Mùa Xuân Yêu Em của Ðỗ Quý Toàn, Tâm Sự Gửi Về Ðâu của Lê Minh Ngọc...

Thơ về chiến tranh/hoà bình và về tình yêu trong suốt 30 năm ly loạn ở trong nước cũng được tôi phổ nhạc rất nhiều như : Thanh Niên Ca của Ðào Duy Kỳ, Ðồi Tím Hoa Sim của Hữu Loan, Lời Mẹ Dặn của Phùng Quán, Kỷ Vật Cho Em của Linh Phương, Tưởng Như Còn Người Yêu của Lê Thị Ý, Khi Tôi Về của Kim Tuấn, Nhân Danh của Nguyễn Ðắc Xuân, Bi Hài Kịch của Thái Luân, Ði Vào Quê Hương của Hoa Ðất Nắng, Tình Khúc Trên Chiến Trường Tồi Tệ, Thầm Gọi Tên Nhau Trên Chiến Trường Tồi Tệ của Ngô Ðình Vận, Mười Hai Tháng Anh Ði của Phạm Văn Bình, Còn Chút Gì Ðể Nhớ của Vũ Hữu Ðịnh, Ở Rừng U Minh Ta Không Thấy Em của Nguyễn Tiến Cung, Chuyện Tình Buồn của Phạm Văn Bình... Ðó là chưa kể trường khúc CHIẾN CA MÙA HÈ gồm 13 bài thơ của Phạm Lê Phan mà tôi phổ nhạc trong Mùa Hè Ðỏ Lửa vào năm 1972.

Trong khoảng đầu của thập niên 70, tôi lại có diễm phúc là làm cho mọi người nhanh chóng biết tới hai hiện tượng về thơ là : thơ rất Ðạo của Phạm Thiên Thư: Ðưa Em Tìm Ðộng Hoa Vàng, Gọi Em Là Ðoá Hoa Sầu, Em Lễ Chùa Này... (nhất là mười bài thơ được phổ thành MƯỜI BÀI ÐạO CA), và thơ tình ngộ nghĩnh của Nguyễn Tất Nhiên: Thà Như Giọt Mưa, Em Hiền Như Ma Soeur, Hai Năm Tình Lận Ðận...

Ra hải ngoại, ngoài những bài thơ ngắn của Hà Huyền Chi như Mười Năm Một Chuyện Tình Buồn, Năm Ngàn Năm Về Trước, của Nguyên Sa như Vết Sâu, của Cao Tần như Thư Em Ðến, Mai Mốt Ông Về, của Viên Linh như Thủy Mộ Quan, của Nguyễn Xuân Quang như Mây Trôi Trôi Hết Một Ðời, của Duyên Anh như Có Bao Giờ Em Hỏi, Em, Anh Ðã Tới Paris và một loạt 5 tập thơ của Ngô Xuân Hậu nhan đề MỘ KHÚC I, II, III, IV và V... tôi còn tung ra hai loại ca là Ngục CaHoàng Cầm Ca mà mọi người đều biết đó là thơ Nguyễn Chí Thiện và thơ Hoàng Cầm do tôi phổ thành ca khúc.

Thế là sau khi đã đi qua gần như hầu hết các nẻo thơ của Nền Thi Ca Việt Nam Hiện Ðại trong tuổi thanh xuân và tuổi giữa trưa rồi, bây giờ vào tuổi về chiều, hành trình phổ nhạc phải dẫn tôi tới THƠ HÀN MẶC TỬ và THƠ NGUYỄN DU.

(Nguồn: blog Phạm Duy)

Ý kiến bạn đọc

Chính Đạo

Theo tôi chữ "Tân nhạc" phải gọi cho đúng tên của nó là : Ca khúc phòng trà viết theo kiểu châu Âu. Vì chữ Tân Nhạc có thể hiểu là Nhạc Mói, mà chữ Nhạc thì vô cùng phong phú, bao gồm cả khí nhạc, nhạc kịch opera vv... trong khi Tân Nhạc của ta thì chỉ có ca khúc viết theo lối phương Tây.

Còn về Lịch sử âm nhạc mà những ai đã học qua nhạc viện ở bất cứ nơi nào trên thế giới, không bao giờ người ta nhắc tới các tác giả ca khúc quần chúng (không viết phần đệm). Đó là thực tế, bạn nào đã học qua nhạc viện đều thấy rõ. Thí dụ Lịch sử âm nhạc Nga, những tác giả của những bài hát rất nổi tiếng ở VN như "Chiều Mat xo cơ va", "Hoa Anh Đào", "Cachiusa" vv...Chả ai nhắc tới bởi vì bên cạnh những Tchaikovski, Mousorgski. Rimski-Koocsakov, Rakhmaninov, Prokofiev, Stravinski, Shotstakovich...vv  thì họ quá bé nhỏ

Khởi Nguyên

Tôi rất đồng ý với ý kiến gọi dòng “Tân nhạc” cho chính xác là “Ca khúc phòng trà”. Dòng ca khúc này phát triển đến nay trở thành dòng “Ca khúc quần chúng” hay “Ca khúc phổ thông”, chiếm lĩnh hầu hết nhu cầu thưởng thức về ca hát của người Việt Nam

Tôi cũng xin mạn phép được lướt nhanh qua những điểm chính của nền ca khúc quần chúng ở Việt Nam mong các bạn hiểu được những ý chính.

Hiện tượng Ca khúc quần chúng đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 30 với một số ca khúc mới được sáng tác và ghi theo ký âm pháp Tây phương.
Trong những ngày đầu, hầu hết các tác giả ca khúc đều tự học hoặc chỉ có trình độ nhạc lý cơ bản, ca khúc của họ chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa lãng mạn Pháp cuối mùa về lời ca và không khí phòng trà Tây phương về âm nhạc. Tuỳ theo các nhu cầu xã hội và chính trị cụ thể, họ pha thêm vào tác phẩm một chút thang âm ngũ cung bình quân luật trong giai điệu, và ít nhiều tính cách dân tộc chủ nghĩa và ái quốc chủ nghĩa trong lời ca. Đặc trưng của ca khúc thời tân nhạc Việt Nam là việc sử dụng các yếu tố nhạc tính Tây phương trong hoà âm, trong thang âm bình quân luật, trong bố cục theo dạng A-B-A, trong việc sử dụng nhóm nhạc nhẹ để đệm cho giọng hát, và trong việc xây dựng tiết tấu trên sườn của các điệu khiêu vũ phổ thông như tango, valse, cha-cha, rumba, slow, v.v.

Những nhạc sĩ đầu tiên của nền Tân Nhạc vì vốn liếng âm nhạc rất hạn chế, nên tác phẩm của họ cũng chỉ để phục vụ trong các quán bar, phòng trà là chủ yếu. Sau một giai đoạn tình ca, ca khúc phổ thông được sử dụng để tác động vào tinh thần kháng chiến chống Pháp. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Ở miền Nam, nó được gia thêm hương vị của loại ca khúc thương mại của Mỹ và Pháp đương thời và trở thành một mặt hàng tiêu dùng cực kỳ phổ thông. Ở miền Bắc, nó được sử dụng tối đa như một phương tiện tuyên truyền chính trị rất hữu hiệu thôi thúc toàn dân ra trận đánh Mỹ. Như thế, sự ra đời của nó là sự ra đời của nền Ca khúc phổ thông, quần chúng, và từ đầu nó đã nhanh chóng nắm vai trò thống lĩnh trong hoạt động âm nhạc Việt Nam, và vẫn còn giữ vị trí ấy cho đến hiện nay. Quả thực, khán thính giả Việt Nam đã bị choáng ngợp bởi hiện tượng này đến độ, đối với đa số người, khái niệm "âm nhạc" hoàn toàn đồng nghĩa với khái niệm "ca khúc quần chúng". "Nhạc" chỉ còn có nghĩa là "bài hát." Theo cái nhìn của một người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp, được đào tạo đầy đủ, nó chỉ là một thứ nghệ thuật nghiệp dư, Phạm Duy cũng không là ngoại lệ .

Khoảng Cách

"nhìn vào tình trạng sinh hoạt âm nhạc ở nước mình thì tôi thấy không thể đi vào con đường nhạc thuần túy như nhạc cổ điển Tây Phương được"(sic).

Có khả năng đi nhưng không muốn đi? Hay là muốn đi nhưng không đủ khả năng, không đủ vốn liếng chuyên nghiệp?

Thực sự để đi vào con đường nhạc thuần túy như nhạc cổ điển Tây Phương được, thì cho tới tận bây giờ vẫn là thách đố với các nước mới phát triển Châu Á chứ không riêng với Việt Nam, còn phải cần thời gian nữa để đi vào con đường nhạc thuần túy như nhạc cổ điển Tây Phương.

Còn viết ca khúc thì so với viết khí nhạc thuần tuý lại là một vấn đề khác hẳn

Phương Thủy

Khó khăn để so sánh hai dòng nhạc đồng thời ở nước ta hiện nay: nhạc cổ điển thính phòng,giao hưởng và ca khúc,thơ phổ nhạc.Thể loại thứ nhất có nguồn gốc từ Châu Âu,thể loại thứ hai mang đặc thù dân tộc Việt,dù được sáng tác theo phong cách „tân nhạc”.Mỗi loại hình có giới hâm mộ riêng của mình.Ca khúc được đa số trong quần chúng ưa chuộng.Nhạc cổ điển thính phòng ,nhạc giao hưởng được một số trong xã hội yêu thích.Như vậy phát triển cần theo hai hướng để phục vụ hai đối tượng khác nhau.

Với dòng ca khúc,hiện nay một số ca sĩ (Thanh Lam,Hồng Nhung…) phát triển trình bày ca khúc xưa cũ theo phong cách hiện đại rất có hiệu quả,giống như thổi hồn đương đại cho thể loại ca khúc này.Dòng nhạc cổ điển với sân khấu riêng cũng cần phát triển thêm một bước mới phù hợp thời đại và mang phong cách trẻ.Ví dụ như phát triển nhạc Jazz trên các giai điệu nhạc cổ điển ; phổ biến nhạc kịch (opera) nổi tiếng của  Âu,Mỹ và opera Việt Nam ; xây dựng Nhà hát kịch „musical”( „musical” là nghệ thuật syncretic  kết hợp các yếu tố: kịch bản cổ điển, múa ,ca hát ,dàn nhạc sống và các kỹ xảo sân khấu kịch hấp dẫn khác*).

*Ở Ba Lan có Nhà hát kịch musical „Roma” ( Vac sa va) được giới trẻ hâm mộ , sân khấu của  Nghệ sĩ hầu hết là Nghệ sĩ trẻ.

Minh Bạch

Hầu như tất cả Ca khúc quần chúng ở Việt Nam có một điểm chung là thường không được người sáng tác viết phần đệm. Chính điều này làm cho nó trở thành một thứ nghệ thuật của những người không chuyên

Chỉ viết mỗi giai điệu đơn giản, Không viết phần đệm khác nào “mang con bỏ chợ” ! cho ai muốn phối thế nào thì phối!

Khi trình diễn hay thu âm, ca sĩ thường chỉ hát trên nền nhạc ứng diễn của ban nhạc nhẹ hoặc nền nhạc được phối khí. Người phối khí thường không phải là tác giả bài hát, và bản phối khí thường rập theo các công thức thịnh hành và hầu như lệ thuộc hoàn toàn theo thẩm mỹ chủ quan của người phối khí, thậm chí phản bội cả quan điểm mỹ học của tác giả. Do đó, mỗi ca khúc quần chúng có thể được trình diễn trên vô số nền nhạc khác nhau (?), thậm chí hoàn toàn tương phản nhau về nhiều phương diện.

Dương Lễ

Khi nghe ca khúc quần chúng Việt Nam, hầu hết người Việt Nam không chủ yếu "lắng nghe" phần nhạc mà chủ yếu theo dõi phần lời. Về phần nhạc, như bất cứ thính giả nhạc pop nào trên thế giới, thính giả Việt Nam cũng chỉ nghe một cách dễ dãi, nhàn tản, chứ không cần cố gắng tập trung "lắng nghe". Mà nói thực ra, đa số người có "lắng nghe" chăng nữa, cũng không thể phân tích được cái hay cái rẻ tiền cho rành mạch vì không có kiến thức âm nhạc. Đó là đám đông dễ bị những chiêu quảng cáo đánh lừa.

Trong một đất nước mà tuyệt đại đa số quần chúng không được học một giờ nhạc nào, thì làm sao một tác phẩm âm nhạc nghiêm túc được thưởng lãm đúng cách và đúng mức.
Và người sáng tác ca khúc quần chúng như : Phạm Duy, Phú Quang, Dương Thụ, Duy Thái, Hồ Hoài Anh, Vĩnh Tiến..vv sẽ được đông đảo quàn chúng biết tới hơn là những nhạc sỹ sáng tác khí nhạc nghiêm túc.
Tất nhiên để một nền âm nhạc hay văn chương hay hội hoạ phát triển tốt đẹp thì nó phải nhắm đến mục đích nghệ thuật đích thực, chứ không phải các mục đích xã hội, chính trị, thương mại hay thuần túy giải trí. Ca khúc quần chúng phổ thông sẽ muôn đời chạy theo thị hiếu và trình độ chung của quần chúng, nên không thể đặt ra vấn đề nghệ thuật nghiêm túc được. Vấn đề của chúng ta là làm sao để cải tiến và phát triển âm nhạc như một nghệ thuật nghiêm túc. Mong VNMUSIC  tạo thêm nhiều diễn đàn để quảng bá cho âm nhạc đích thực chứ không chỉ luôn quảng cáo cho dòng nhạc bình dân

Quyết Thắng

Ý kiến của bạn Khởi Nguyên rằng "...Ở miền Bắc, nó (Ca khúc) được sử dụng tối đa như một phương tiện tuyên truyền chính trị rất hữu hiệu thôi thúc toàn dân ra trận đánh Mỹ". Nếu đúng như vậy thì nền nghệ thuật cách mạng "Tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc"  mà chúng ta xây dựng chỉ là "một phương tiện tuyên truyền chính trị rất hữu hiệu" thôi ư?

Bác Hồ đã dạy : "Nghệ sĩ cũng là chiến sỹ trên mặt trận văn hoá". Vậy là các nhạc sỹ đã làm tròn trách nhiệm của mình với tổ quốc, và biến nghệ thuật của mình thành vũ khí trên mặt trận tư tưởng. Tổ quốc ghi công họ bằng nhừng giải thưởng Nhà nước, Giải Hồ Chí Minh vv...là xứng đáng


Thẩm Hoàng Minh (Pháp)

Nếu tầm và tài của anh chỉ là tư duy tới Ca khúc quần chúng thôi. Thì dù anh có phối cái ca khúc quần chúng đó cho Dàn nhạc giao hưởng, cộng với hợp xướng hàng ngàn người, cộng thêm dàn nhạc Pop , hay cộng thêm gì gì đi nữa, thì vẫn chỉ là tư duy đơn giản được phóng to lên mà thôi ( có thể gọi là pha loãng ). Một khi tầm của anh là tư duy phức, đa chiều, mang tầm khí nhạc, thì như J.Bach hoặc Bela Bartok ,chỉ viết cho Violon hoặc Violoncello solo thôi, một cây đàn diễn tấu mà nghe đã có chất giao hưởng ở trong đó (có thể gọi là cô đặc tư duy)

Thuỷ Tiên

Tôi là một người yêu âm nhạc và rất thích hát. Là một người hay tìm kiếm các bản nhạc để tự đệm hát, tôi nhận thấy rất rõ ràng rằng các ca khúc của nước ngoài - kể cả những ca khúc vào loại "nhạc trẻ", "nhạc thị trường" của họ cũng luôn có bản nhạc rất đấy đủ giai điệu , hòa âm và phần đệm piano đầy đủ, thống nhất theo phần biểu diễn của ca sĩ mà ta được nghe. Do vậy muốn có phần đệm để trình bày các ca khúc này thì rất dễ dàng, miễn là biết chơi đàn. Thế nhưng đến khi nhìn lại những ca khúc Việt Nam (từ Phạm Duy, Văn Cao, Văn Chung, Đoàn Chuẩn…Huy Du, Hoàng Vân, Nguyễn Văn Tý…Trần Tiến, Phú Quang, Dương Thụ, Nguyễn Cường, Lê minh Sơn…vv) thì tuyệt nhiên bói không bài nào có viết cả đệm piano cả, thế nên đành phải tự mò hợp âm rồi đệm tùy ý vậy, hoặc không thì phải tìm đĩa karaoke mà hát. Chỉ một điều này thôi đã đủ "tố cáo" sự không chuyên nghiệp của nền âm nhạc nước ta rồi! Nếu ai không tin có thể lên mạng và search "music sheets", các ca khúc của người ta từ dân ca cho đến nhạc trẻ đều có bản nhạc chuyên nghiệp cả, trong khi ca khúc VN thì tìm không đâu ra được bản nhạc như thế.

Chính Định

Một nghịch lý trong rất nhiều nghành nghệ thuật hiện nay ở Việt nam là : những dòng nghệ thuật đang được đông đảo quần chúng say sưa đón nhận hồ hởi thì giới chuyên nghiệp lại coi thường thậm chí cho là rẻ tiền, là “sến”, là thương mại thị trường vv… Điều này thể hiện rõ nhất trong âm nhạc, nơi “nghệ thuật của đám đông” đang ép sân những dòng nhạc chính thống, có chiều sâu, có học thuật. Đó chính là điều khó khăn nhất trong sự lựa chọn con đường nghệ thuật của mỗi nhạc sĩ. Đặng Thái Sơn có câu nói rất đáng để ta suy ngẫm “Được nhiều người vỗ tay thì cũng thích, nhưng sự đánh giá của những người đồng nghiệp có chuyên môn mới là quan trọng”.

“Nghệ thuật của đám đông” chính là văn hoá "bầy đàn" . Nói như Albert Einstein thì: "..văn hoá bầy đàn mãi vẫn là trì độn trong tư duy và cảm xúc" (Thế giới như tôi thấy-NXB Trí thức5/2007). Văn hoá Việt nam phải dần dần hướng tới trí tuệ để theo kịp các nước trong khu vực như Hàn Quôc , Thái lan, Trung Quốc, Nhật bản. Mong các phương tiện thông tin đại chúng bớt bớt những sự lăng xê thái quá những dòng nhạc bình dân, nhiều khi cực đoan đến nhảm nhí như "Nhạc thảm hoạ" mà báo chí nhắc gần đây!

Chính Ngữ

Phổ thơ Hàn Mặc Tử và Nguyễn Du, không có nghĩa là người phổ nhạc sẽ trở thành ngang hàng với Hàn Mặc Tử và Nguyễn Du. Đặc biệt là Nguyên Du chỉ có một, còn người phổ nhạc của Truyện Kiều thì có thể có rất rất nhiều. Chúng ta đã thấy Truyện Kiều đã được đưa lên sân khấu Cải Lương, có người đã phổ ra “hợp xướng”, nhạc tiến hành kiểu nửa Tây nửa Ta, và định lập kỷ lục về độ dài (?) cũng như độ dai, độ dại… Và khi nghe đều thấy không ổn, nghiệp dư quá.

Đã có nhiều làn điệu Chèo, Quan Họ, Ca trù dùng thơ Kiều nhưng họ chỉ hát có 1 hay 2 khổ thơ thôi, không thể kéo dài cả một đoạn dài. Và các cụ dùng truyện Kiều cũng như một cái cớ để hát lên các làn điệu dân ca đặc sắc của Việt Nam.

Theo tôi đừng ai định phổ nhạc thơ Kiều theo lối nửa Tây nửa Ta nữa thì hơn. Với kết cấu câu thơ 6/8 lục bát thì câu nhạc cũng phải đi theo kết cấu đó trong hàng ngàn câu (còn nếu phá cấu trúc thơ thì lại làm hỏng thơ) nó sẽ một màu, monoton và …buồn ngủ vô cùng.

Xin đừng thêm chân cho rắn, đừng ăn theo Nguyễn Du nữa các nhạc sĩ ơi…

Đặng Hữu Phúc

Để xử lý thể loại thơ Lục Bát như Truyện Kiều, tránh sự monoton nếu cứ hát đúng như cấu trúc thơ, cha ông ta đã có nhiều cách khác nhau, nhiều khi trở thành công thức như toán học, vì vậy nếu ai chưa đọc và thuộc Truyện Kiều sẽ thấy khó hiểu vì cách nghép câu khi hát không cần biết đến nội dung.

Tôi xin ví dụ điệu Xá của Chầu văn phổ 5 câu  Kiều như sau :

“Cỏ non xanh rợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Thanh minh trong tiết tháng ba

Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh

Gần xa nô nức yến anh..,”

Sẽ hát theo công thức sau, ta để ý quan sát, để đúng công thức, câu thơ sẽ bị chia cắt, lắp nghép lại như sau (theo điệu hát):

“Cỏ non i i i i i i

Xanh rợn chân trời, cành lê trắng điểm i i i i i i

Một vài bông hoa, thanh minh trong tiết tháng ba i i i i i I”

Đó là một chu kì, ta để ý, câu cuối cùng của chu kỳ này lại là câu đầu tiên của chu kì sau, như là một “mối nối” thật tài tình và độc đáo. Ví dụ chu kì tiếp theo thì lại là:

“Thanh minh i i i i i i

Trong tiết tháng ba, lễ là tảo mộ i i i i i i

Hội là đạp thanh, gần xa nô nức yến anh i i i i i i”

Trong dân ca, nhiều khi thơ chỉ là một cái cớ để cha ông ta hát những làn điệu đặc sắc của người Việt Nam. Lời không quan trọng lắm.

Nếu không xử lý được nhịp điệu đều đều của lục bát và phổ theo kiểu “lời đâu nhạc đấy”, dấu sắc thì nhạc lên cao, dấu nặng thì nhạc xuống thấp, cứ tuỳ tiện, câu này nối câu kia vv… thì nghe sẽ buồn ngủ và chẳng có nghĩa lý gì làm mất thì giờ của người nghe…

Và tôi rất tán thành ý kiến của bạn Chính Ngữ : đừng ai định phổ nhạc thơ Kiều theo lối nửa Tây nửa Ta nữa

 

 

Xem trang kế tiếp: 1 2 3

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác