Trang chủ | Thứ hai, 20/05/2013 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 7313646
Trang chủ » Khí nhạc

KHAI GIÁC – ĐƯỢC VIẾT BẰNG MỘT LINH GIÁC KỲ LẠ

Thứ bảy, 30/10/2010

Nguyễn Thụy Kha


Đêm công diễn Khai giác

Giao hưởng - hợp xướng Khai giác được nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo viết để trình diễn tại "Đại lễ phật Đản Liên Hợp Quốc 2008" tổ chức ở Việt Nam huy động đến một dàn hợp xướng đông tới 350 người và dàn nhạc giao hưởng đông tới 150 người, để trình diễn trong suốt 40 phút liên tục.
Đó vừa là biểu hiện sự nỗ lực của nhà soạn nhạc và những người tổ chức, vừa là biểu hiện lòng thành của người Việt Nam với đạo Phật từ ngàn năm nay. Nhưng hơn hết vẫn là một nhân duyên kỳ ngộ giữa nhà soạn nhạc Nguyễn Thiên Đạo và Đại Đức Thích Đức Thiện tại chùa Phật Tích linh thiêng vào mùa thu năm Đinh Hợi 2007.
Nguyễn Thiên Đạo từ Pari khởi nghiệp tìm về Việt Nam quê hương từ ngay sau ngày thống nhất đất nước. Nhưng phải trong khoảng mười năm nay, ông mới thực sự có điều kiện thường xuyên ở Việt Nam và thường xuyên đắm chìm trong "con âm xứ sở" để mong ước tạo ra những tác phẩm âm nhạc đậm chất phương Đông, đậm chất quê hương. Lúc thì ông thả hồn theo Sóng hồn, Sóng nhất nguyên... lúc thì ông tan loãng trong Khói Trương Chi, Khói sóng... trong cuộc viễn du với cấu trúc "Trong Lão ngoài Khổng", với ngôn ngữ âm nhạc phi cung, phi điệu tính. Âm nhạc Nguyễn Thiên Đạo là dạng âm nhạc "tĩnh trong động". Đây là sự đóng góp được ghi nhận qua những từ điển danh giá của thế giới như Le Petit Larousse (1982), Le Petit Robert (1995)... của nhà soạn nhạc tài năng này. Dù đã cận kề cái tuổi "nhân sinh thất thập", Nguyễn Thiên Đạo vẫn không ngừng tìm kiếm những cuộc hóa thân mới trong sáng tạo. Và trong sự tìm kiếm ấy, ông đã gặp được Đại đức Thích Đức Thiện. Trong không gian tịch mịch của chùa Phật Tích, Nguyễn Thiên Đạo đã choáng ngợp bất ngờ khi nghe giọng thỉnh kinh đầy mê lực của vị Đại đức trẻ tuổi nhưng thông minh dĩnh ngộ với trí lực sâu sắc. Ham muốn viết một tác phẩm âm nhạc tầm vóc về Phật giáo đã bén bùng trong tâm hồn nhà soạn nhạc. Ham muốn ấy đã gặp nhân duyên, đã có thời khắc để trở thành hiện thực khi chính vị Đại Đức đặt vấn đề về một tác phẩm như thế rất cần được vang lên tại "Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008". Và Nguyễn Thiên Đạo đã "được lời như cởi tấm lòng".
Để có thể thực hiện được một tác phẩm âm nhạc tầm vóc về Phật giáo, Nguyễn Thiên Đạo đã nghiên cứu rất kỹ bài kệ dài của Phật tử Ngô Minh Thơm được viết ra bằng linh giác kỳ lạ, nhưng kỳ lạ hơn là nó lại mang đầy tinh thần của Khóa Hư Lục - một bộ kinh Phật giáo Việt Nam hiếm hoi của vua Trần Thái Tông (1218-1277). Sau nhiều trăn trở, Nguyễn Thiên Đạo đã đi đến một quyết định quan trọng là rời bỏ những suy nghĩ ở thế kỷ cũ, không chịu "lưu ban thế kỷ" mà bước tới những suy nghĩ mới ở thế kỷ mới. Vượt lên cấu trúc "Trong Lão, ngoài Khổng", Nguyễn Thiên Đạo bước tới nhất nguyên thật sự của sự đốn ngộ, của "khai giác". Vượt qua ngôn ngữ âm nhạc phi cung, phi điệu tính, ông trở về với ngôn ngữ âm nhạc điệu tính, với ngũ cung nhưng với lối tiến hành không như những nhà soạn nhạc dùng ngôn ngữ điệu tính nhưng chưa trải qua ngôn ngữ âm nhạc phi cung, phi điệu tính. Nhân duyên với Đại đức Thích Đức Thiện đã khiến cho Nguyễn Thiên Đạo có được sự biến chuyển tự nhiên trong sáng tạo âm nhạc. Và giao hưởng - hợp xướng Khai giác đã ra đời.
Nguyễn Thiên Đạo đã quyết định chọn cấu trúc cho tác phẩm âm nhạc của mình gồm 7 chương dựa trên tích 7 tuần Thái tử Sĩ-Đạt-Đa (Siddhartha) tham thiền nhập định giác ngộ hoàn toàn trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni - Giáo tổ khai sáng đạo Phật.
Chương mở đầu mang trên Thiền Quán Tưởng nhằm mô tả không khí thiền định khi Thái tử mới bắt đầu tĩnh tâm thoát khỏi những vướng bận trần thế trong ý nghĩ. Lời thơ được chọn lọc và quấn quít nhau bằng phức điệu rất phức tạp. Câu niệm "Nam mô A di đà Phật" được khai thác như một mô típ lặp lại (leitmotive) tả cảnh mới nhập thiền của Thái tử Sĩ-Đạt-Đa (Siddhartha).
Chương hai mang tên Tử tả sự đau buồn của loài người trước cái chết sinh vật. Dòng nhạc từ trầm lên cao vút trong tiếng thét rồi xuống trầm để nổi lên tiếng ma hú rùng rợn. Nhưng chính khi con người ý thức rằng mình sẽ chết thì khát khao sống mới mạnh mẽ, từ khát khao sống đến khát khao bất diệt vượt qua cái chết sinh vật. Âm nhạc rất có tinh thần Khóa Hư Lục khi bàn về tử.
Chương ba mang tên Sinh tả sự ngoái nhìn xa hơn về đời sống con người trên dương thế với những trạng thái tâm lý đặc biệt như cuồng, hỷ, nộ. Ở đây tinh thần "Khóa Hư Lục" đã thấm vào những đoạn niệm của phật tử Ngô Minh Thơm và đã được tác giả thổi vào âm hưởng dân gian của tuồng, chèo, tài tử Nam Bộ. Ba nghệ sĩ độc tấu: Mạnh Dũng - giọng nam cao, Quốc Hưng- giọng nam trầm, Bích Thủy - giọng nữ cao hát với dàn nhạc đã thể hiện rất xuất sắc ba trạng thái tâm lý này.
Chương bốn mang tên Trừ tà miêu tả sự trừ ma chướng và cám dỗ. Dàn nhạc như thác đổ lở đất long trời. Hợp xướng như những tiếng gầm thét của ác quỷ. Chương bốn thể hiện kỹ thuật dàn nhạc rất rõ nét.
Chương năm mang tên Thiền nhập định với sự xuất hiện tụng kinh "Bát nhã Ba La Mật Đa" của tốp hợp xướng tăng ni đem lại sự độc đáo đột ngột. Một giọng nam đọc thơ Ngô Minh Thơm và tốp hợp xướng tăng ni quyện nhau cùng dàn nhạc. Kết thúc bằng cụm nốt đẹp của hợp xướng nữ.
Chương sáu mang tên Bay lên cũng là dành cho dàn nhạc giao hưởng thể hiện. Dàn dây trữ tình nổi lên dần dần. Tiếng phím đàn ngân rung và tiếng cồng ngân nga từ không trung rơi xuống. Tiếng chuông đổ lưng trời mừng Đại lễ Phật Đản, mừng Phật "bay" lên Niết Bàn.
Chương bảy mang tên Niết Bàn tràn đầy không gian câu niệm "Nam mô A di đà Phật" mang đến một cảm xúc mênh mang của cõi Niết Bàn như lời Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục: "Ngàn sông có nước ngàn trăng chiếu - Muôn dặm không mây muôn dặm trời".
Ngày 19-4-2008 là ngày lịch sử của đất nước khi vệ tinh Vinasat-1 được phóng lên quỹ đạo, thì cũng là ngày lần đầu tiên giao hưởng - hợp xướng Khai giác của nhà soạn nhạc Nguyễn Thiên Đạo được dàn hợp xướng và dàn nhạc Học viện trình bày trước sự hiện diện của lãnh đạo Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch - Thứ trưởng Lê Tiến Thọ, Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn Lê Ngọc Cường cùng nhiều chuyên gia và đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ. Chiều hôm đó, chính Đại đức Thích Đức Thiện cũng mới lần đầu tiên được nghe tác phẩm này. Sự cuốn hút của tác phẩm đã mang tới niềm hân hoan cho tất cả mọi người.
Nghe giao hưởng - hợp xướng Khai giác và nhìn một khối lượng người khổng lồ tham gia trình diễn, có cảm giác đây là một thời khắc hiếm có, hội đủ "Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa" để có thể tạo ra một sự kiện văn hóa đáng ghi nhớ như thế này. Có một trùng lặp hết sức tự nhiên là năm nay 2008, vừa tròn 790 ngày sinh Trần Thái Tông (1218) - vị hoàng đế đầu tiên thời Trần và là tác giả Khóa Hư Lục. Năm nay vua Trần Nhân Tông - người khai sáng "Thiền phái Trúc Lâm" từ tinh thần của ông nội Trần Thái Tông, cũng đúng lễ kỷ niệm 750 năm ngày sinh và 700 năm ngày mất (1250-1300).
Khai giác với sự giác ngộ và tài năng của nhà soạn nhạc Nguyễn Thiên Đạo xứng đáng là một đóng góp vào dòng chảy của dòng Phật nhạc đã được khởi sự từ buổi đầu Tân Nhạc suốt 70 năm qua (1938 - 2008) mà bắt đầu từ tác phẩm A di đà Phật của nhạc sĩ Thẩm Oánh, được giới thiệu nhân tuần lễ khánh thành Chùa Quán Sứ - Hà Nội (ngôi chùa được trùng tu cuối năm 1942) và sau đó là sự đóng góp của nhiều nhạc sĩ khác như Hoàng Quý, Trần Văn Khê, Nguyễn Hữu Ba, Văn Giảng v.v...
Khai giác dường như gợi nhớ đến những lời thơ của Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục:
Mây sinh đỉnh núi nhiều mầu trắng
Nước đến Tiêu Tương một vẻ trong

Mưa xuân không cao thấp
Cành hoa có ngắn dài

Nước chảy xuôi non đâu có ý
Mây tuôn qua núi vốn vô tâm

Chớ bảo vô tâm là có đạo
Vô tâm còn cách mấy trùng quan...

Ý kiến bạn đọc

Xuân Vui

Nhạc sĩ Ngyễn Thiện Đạo có những tác phẩm rất độc đáo kỳ lạ. Như tác phẩm "Gió Đông" (1973) viết cho 1 giọng người solo, như kiểu khẩu thuật.

Điều kỳ lạ nữa là chính nhạc sỹ NTĐ lại tự thể hiện tác phẩm này của mình trong bản ghi âm trên đĩa than 33 Tours Erato STU 71.114

Chúng tôi rất muốn được nghe và xem tổng phổ của bản "Gió Đông" này. Mong nhạc sỹ bớt chút thời gian cung cấp cho bạn đọc vnmusic. Xin cảm ơn

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác