Trang chủ | Thứ ba, 12/12/2017 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 14175259
Trang chủ » Nhạc sĩ

TRỞ THÀNH NHẠC SĨ NGAY GIỮA CHIẾN TRƯỜNG ÁC LIỆT

Chủ nhật, 12/12/2010

Anh Vũ

Nhạc sĩ Xuân HồngSáng tác ca khúc là sở trường của Xuân Hồng để nói lên “những điều tự thân cuộc sống muốn nói" - như ông thường tâm sự. Hầu hết các tác phẩm của ông đều mang âm hưởng của các bài bản ca nhạc tài tử thính phòng, của những điệu hò, điệu lý trong dân ca Nam bộ và được khơi nguồn từ chính cuộc đời ông - người chiến sĩ dạn dầy với bao mùa kháng chiến, tràn đầy tình yêu quê hương đất nước, tình cảm chân thành với gia đình và đồng đội.

Nhạc sĩ Xuân Hồng là một trường hợp điển hình của sự bắt rễ hút nhựa từ truyền thống lâu đời của quê hương, điển hình của một chiến sĩ chiến đấu bằng cây súng và cây đàn, trở thành nhạc sĩ ngay giữa chiến trường ác liệt. Trưởng thành ngay trong lòng dân, ông thừa kế truyền thống âm nhạc vốn sẵn dồi dào trong vùng quê Tây Ninh, sử dụng nhuần nhuyễn và sáng tạo trong âm hưởng các giai điệu của mình. Những luyến láy, chuyển điệu đã mô phỏng ít nhiều theo ngón đàn cổ truyền, biến tấu quen thuộc từ thời còn nhỏ. Trong ca khúc của ông thật khó phân biệt chỗ nào tác giả đã xây dựng câu nhạc theo cốt cách lời ca là văn vần, và chỗ nào đã phổ lời ca theo nhạc điệu, vì nhạc và lời gắn bó chặt chẽ với nhau.

Sự nghiệp sáng tác của ông có thể chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ đầu mở ra bằng ca khúc Bài ca may áo, tiếp sau là Xuân chíến khu, Chiếc khăn tay, Hành quân đêm, Tiếng chày trên sóc Bombo. Thời kỳ thứ hai mở đầu bằng ca khúc Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh, tiếp sau là hàng loạt ca khúc về nhiều đề tài khác nhau, như Giặt áo cho anh, Về thăm Tây Ninh quê em, Chúng tôi ước mong, Nhịp thời gian, Kỷ niệm mùa thu, Âm vang cao nguyên, Trở lại Cát Tiên, Mùa Xuân bên cửa sổ, Cây đàn ghita của đại đội 3, Tôi yêu Phnôm Pênh, Bài ca kết nghĩa, Tiếng hát bên Lăng Bác; về đề tài thiếu nhi, ông có Thành phố của em, Chú thỏ con, Kể chuyện 3 con mèo...Ngoài ra ông còn viết một vài tác phẩm khí nhạc nhỏ, âm nhạc cho một số vở tuồng... 

Nhiều năm sau, khi cách mạng đãchuyển giai đoạn, ông thỉnh thoảng tái hiện những mẩu tình người mà trước kia đã từng được thử thách trong lửa đạn, như Tiếng đàn em, Giặt áo cho anh, Mùa xuân bên cửa sổ, những hồi ức về một thời kỳ gian khổ như: Kỷ niệm mùa thu, Chiếc xuồng quê hương, Trở lại Cát Tiên, Hoa mười giờ vẫn nở, những cảm xúc trữ tình như Tình biên giới (thơ Viễn Phương), Giai điệu xanh, Cây đàn ghita của đại đội 3, Chiều trên rẫy…, tình yêu, lòng biết ơn vô hạn đối với lãnh tụ như Tiếng hát bên Lăng Bác, Người đốt đuốc soi đường, tình đoàn kết quốc tế như Tạm biệt, Tôi yêu Phnôm Pênh… Trong không khí của một đất nước thống nhất, hòa bình, ông mở rộng tầm nhìn, mở rộng nguồn cảm hứng, từ đập Đa nhim (Chiều xuống Đa nhim) đến Đôn Ta (Khúc hát đêm Đôn Ta), Tây Nguyên (Âm vang cao nguyên), Sông Bé (Về lại sông Bé quê em), người mẹ Bàn Cờ (Gặp người mẹ Bàn Cờ), các chiến sĩ biên phòng Côn Đảo (Nhớ anh)…

Xuân Hồng gọt giũa nhạc điệu kỹ bao nhiêu thì cũng tìm tòi vần điệu cho ca từ kỹ bấy nhiêu; ta có thể thấy một thủ pháp nổi bật, mà có lẽ ít nhạc sĩ quan tâm đạt tới, đó là chăm sóc cước vận - vần cuối câu, đồng thời tận dụng hiệu quả của yêu vận - vần giữa câu. Đây là một đặc điểm của các ngữ hệ Môn-khmer, Thái Tày và Việt Mường mà nhạc sĩ Xuân Hồng sử dụng rất thành thục.

Trong ngôn ngữ âm nhạc, Xuân Hồng không chỉ dừng lại ở truyền thống âm nhạc quê hương mình, ông tiếp thu âm nhạc dân gian của những miền quê khác và vận dụng sáng tạo vào tác phẩm của mình, thí dụ chất liệu âm nhạc Tây Nguyên trong Tiếng chày trên sóc Bombo, Âm vang cao nguyên... Ông mở rộng điệu thức, sử dụng những kết hợp điệu thức, những âm hóa, những chuyển điệu nhanh, đột ngột. Giai điệu trong âm nhạc Xuân Hồng thường có nhiều quãng nhảy rộng, như 4 đúng, 5 đúng, 7 thứ là những quãng gặp phổ biến trong âm nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam. Thành công của ông thể hiện rõ rệt nhất ở những bài hát có cấu trúc khúc chiết, gọn gàng, như Bài ca may áo, Xuân chiến khu, Tiếng chày trên sóc Bombo, Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh, Mùa xuân bên của sổ, Chiếc khăn tay, Cây đàn ghita của đại đội ba...

Bài hát Xuân chiến khu của ông đã được nhạc sĩ Lưu Hữu Phước nhận xét: “…bài hát này rõ ràng là một biến tấu tài tình của bản đàn Bình bán vắn mà ở Đồng Nai - Cửu Long tựa hồ như đã hóa thành một bài dân ca cửa miệng từ thời ấu thơ... "

Còn sóc BomBo, một địa danh bé nhỏ hầu như chưa ai biết, từ năm 1966, khi cả miền Nam cũng như miền Bắc đang chìm trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đột nhiên trở nên nổi tiếng trong cả nước . Trong mọi cuộc liên hoan nghệ thuật ở các tỉnh miền Bắc đến các vùng giải phóng ở miền Nam, thậm chí trong sinh hoạt ca hát tập thể, đâu cũng thấy vang lên bài hát này.Bài hát giản dị, với bè đối vị dễ hát, dễ nhớ, với âm hưởng Tây Nguyên thời đó còn khá là mới lạ, đã chuyển tải được những hình ảnh thân thương của miền Nam đang tràn đầy khói lửa, những mảnh tâm tình của nhân dân và chiến sĩ miền Nam. Sức hấp dẫn của bài hát chính ở sự chân thành đầy xúc động trong âm nhạc, lời ca, trong tính tạo hình của cấu tứ âm nhạc, trong vần điệu giàu chất thơ mộc mạc của lời ca. Sự giản dị, nhưng không đơn sơ, mà lại chứa đựng một tính chất nghệ thuật thật tinh tế, màu sắc địa phương được khắc họa đậm nét, đãkhiến bài hát nho nhỏ trở nên bất hủ, là một dấu son không chỉ trong các tác phẩm của nhạc sĩ Xuân Hồng, mà trong toàn bộ sáng tác thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Còn bài hát Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh thời ấy không lúc nào vắng bóng trên mọi sân khấu ca nhạc trong cả nước, trong các chương trình hội diễn chuyên nghiệp và không chuyên. Tính chất xúc động bồi hồi, niềm vui bồng bột nhưng chân thành và da diết của âm nhạc, với những ca từ đậm đà nghĩa tình, giàu hình ảnh, giàu chất thơ đã chinh phục được tình cảm của hàng triệu người trong cả nước.

Chỉ với những ca khúc ấy thôi, chỗ đứng của ông trong làng nhạc Việt Nam đã đủ bề thế, khiến cho người nhạc sĩ ấy, khi ra đi đã để lại một khoảng trống không gì bù đắp được.

Nhạc sĩ Xuân Hồng tham gia cách mạng ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong thời kỳ đó, ông đã dùng âm nhạc để động viên tinh thần yêu nước của cán bộ chiến sĩ. Âm nhạc của ông là tiếng nói rất giản dị mà mà rất đỗi lạc quan.

Do thành tích cống hiến lớn lao cho nghệ thuật âm nhạc Việt Nam, Xuân Hồng đã nhận nhiều giải thưởng xứng đáng: Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu, giải thưởng Hội nhạc sĩ Việt Nam... Đặc biệt năm 2000, ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm: Xuân chiến khu, Bài ca may áo, Tiếng chày trên sóc Bom Bo, Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh, Người mẹ của tôi.

Nguồn: ANVN13 (09/2010)

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Các bài viết khác