Trang chủ | Chủ nhật, 30/04/2017 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 13842634
Trang chủ » Thanh nhạc

TRƯỜNG CA HÀN MẠC TỬ - MỘT TÁC PHẨM THƠ PHỔ NHẠC LỚN TRONG SỰ NGHIỆP PHẠM DUY

Thứ tư, 16/01/2013

Đoàn Xuân Kiên

 

Trong kho tác phẩm đồ sộ của Phạm Duy, thơ phổ nhạc có một vai trò rất đáng kể. Phải nhận rằng nhạc của ông đã làm bất tử một số những bài thơ, và ngược lại thơ đã gợi hứng cho ông viết những giai điệu mượt mà quyến rũ nhiều thế hệ người nghe.

Trường Ca Hàn Mặc Tử là công trình thơ phổ nhạc rất khác với những bài trước đây thường chỉ là những đoản khúc hoàn chỉnh riêng rẽ, dù có đặt chúng vào một tập hợp như Ðạo Ca, Ngục Ca, Hoàng Cầm Ca. Một công trình dài hơi và dài ngày, nếu cứ tính từ khi lần đầu tiên bài Tình Quê xuất hiện như một phụ bản trong tập san THẾ KỈ HAI MƯƠI (1960) tại Sàigòn.

phạmduyNgoài Phạm Duy ra, có Hải Linh và Viết Chung trước đây cũng phổ nhạc Hàn Mặc Tử, mỗi người một phong cách khác nhau. Nhưng cũng chỉ với Phạm Duy rất đáng chú ý vì tính cách đa dạng và thể hiện một phong cách đặc biệt. Trong Trường Ca Hàn Mặc Tử, có đủ các kỹ thuật phổ nhạc mà Phạm Duy thường vẫn sử dụng: lắp giai điệu vào lời thơ, biến thể các giai điệu để phát triển nhạc đề, và chuyển ý thơ thành điệu. Kỹ thuật lắp giai điệu và thủ pháp quen thuộc thường thấy ở thơ phổ nhạc: Bài Chiều Ðông phổ nguyên lời bài thơ Khoác Kín của Cung Trầm Tưởng là một thí dụ. Phải nói ngay là Phạm Duy rất hiếm khi phổ nguyên lời thơ của toàn bài, vì đòi hỏi của cấu trúc câu nhạc cũng có mà vì sự chọn lọc lời ca của ông cũng có. Vì vậy, bài thơ phổ nhạc của Phạm Duy thường phong phú về giai điệu và nhạc đề nhờ ở nghệ thuật gây ấn tượng qua những kết hợp kỹ thuật khác nhau.

Bài thơ phổ gần như nguyên vẹn trong Trường Ca Hàn Mặc Tử là Ðây thôn Vĩ Giạ (gồm có ba khổ thơ thất ngôn) thật ra cũng phải tôn trọng cấu trúc của bài hát mà kết cấu như sau: đoạn một của bài hát gồm khổ một và khổ hai, đoạn hai gồm khổ một và khổ ba. Sự láy lại khổ thơ là một nghệ thuật gây ấn tượng bằng sự láy lại nhạc đề của phân khúc này. Kỹ thuật biến thể các giai điệu để phát triển rộng nhạc đề là thủ pháp đã được dùng trong khi phổ bài Tình Quê. Ông đã bố cục bài hát làm hai đoạn lớn có giai điệu không xa nhau lắm và nối chúng lại với nhau bằng bản lề rất khéo là hai câu thơ ngũ ngôn trong bài thơ nhưng đã phổ thành hai biến điệu khác nhau cho phù hợp với âm hành của câu nhạc. Sự tròng tréo các giai điệu trong hai đoạn có tác dụng nghệ thuật đặc sắc cho bài hát. Kỹ thuật mà Phạm Duy thường sử dụng là kỹ thuật chuyển ý thơ thành giai điệu.

Ðây là một kỹ thuật đòi hỏi khả năng thưởng ngoạn văn học ngõ hầu có thể nắm bắt được ý của câu đoạn hay cả bài thơ để chuyển thành giai điệu. Phạm Duy đã sử dụng kỹ thuật này mà hoàn thành những tác phẩm bất hủ như Tiếng Sáo Thiên Thai, Vần Thơ Sầu Rụng, Hoa Rụng Ven Sông...

Trong Trường Ca Hàn Mặc Tử, phần phổ nhạc nhóm bài thơ về Trăng là phần rất công phu nhờ sự biến ảo của giai điệu theo nhịp điệu phù hợp với tâm trạng trong thơ. Phạm Duy đã tổ hợp các bài thơ khác nhau theo một thứ tự do ông thiết định để làm bật lên trạng thái tâm hồn của nhà thơ trong phân khúc này. Không có được khiếu thưởng ngoạn thi ca sâu sắc thì không thể có được những bản thơ phổ nhạc như thế. Cứ so sánh lối tiếp cập của Hải Linh và Phạm Duy khi phổ bài thơ Ave Maria sẽ thấy ngay phong cách Phạm Duy: ông tước bỏ đoạn đầu của bài thơ mà Hải Linh đã dùng để phát triển nhạc đề cho bài hợp xướng: Ave Maria giầu tính cách tôn giáo: Như song lộc triều nguyên ơn phước cả...


Phong cách phổ nhạc ở đây đã phản ánh phong cách người nhạc sĩ. Bao trùm lên các kỹ thuật vừa kể là nghệ thuật gây ấn tượng qua sự nhấn mạnh nhạc đề. Ðây là điểm đặc sắc của nghệ thuật sáng tác Phạm Duy. Bài Ðà Lạt Trăng Mờ chẳng hạn, đã láy đi láy lại nhiều lần nhạc đề bài hát. Ta tìm thấy lại nghệ thuật ấy trong tất cả các phân khúc của Trường Ca Hàn Mặc Tử. Ấn tượng về câu nhạc được tô đậm trong trí người nghe là nhờ những sự nhấn mạnh nhạc đề như thế. Ðiều kỳ diệu là những câu hát được tô đậm bằng sự láy lại đã không hề tạo ấn tượng nhàm chán. Làm sao nắm bắt được nhạc đề của bài thơ phổ nhạc, hoàn toàn thuộc về sự bén nhạy của tư duy nghệ thuật của Phạm Duy. Nếu những bài thơ hay là những bài thơ có thần thì những câu thơ phổ nhạc của Phạm Duy trong Trường Ca Hàn Mặc Tử cũng có thần của chúng, tạo nên khí vị nhất quán khi nghe riêng từng bài hay lúc nghe toàn thể chín phân khúc. Ma lực cuốn hút của những phân khúc thơ phổ nhạc Trường Ca Hàn Mặc Tử là ở những đợt sóng cảm xúc xô đẩy tới lui như những đợt sóng khác nhau dào dạt đuổi bắt không ngừng.


Trường Ca Hàn Mặc Tử là một dấu mốc đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Duy. Nếu thơ phổ nhạc nói chung đã là một gạch nối đặc biệt giữa văn học và nghệ thuật âm nhạc thì Trường Ca Hàn Mặc Tử còn có ý nghĩa một phác họa chân dung của một nhà thơ bằng âm nhạc. Giá trị của tác phẩm như vậy là đa dạng. Hãy chỉ nhìn tác phẩm trong địa hạt âm nhạc thôi, Trường Ca Hàn Mặc Tử cũng là một công trình đồ sộ: giai điệu phong phú, hòa âm tân kỳ, giọng hát nhã luyện. Tác phẩm để lại dư vị ngất ngây và những bâng khuâng không dứt về thân phận người thi sĩ quá cố mà cũng là của mỗi chúng ta. Ðạt được như thế không thể không có một khí lực âm nhạc dữ dội.


(Nguồn: phamduy.com)

 

Ý kiến bạn đọc

Thế Tuyên

Tôi rất ngưỡng mộ những bài Phạm Duy phổ nhạc trước kia, trong đó có bài Tình quê (thơ Hàn Mặc Tử). Nhưng nghe bài "Đây thôn Vỹ Dạ" thì không chấp nhận được. Đúng là Pham Duy đã qua rồi thời huy hoàng rồi. Đừng phổ biến những bài hát như thế này của Phạm Duy nữa. Hãy để "thần tượng" của tôi sống mãi trong ký ức của riêng tôi.

Xuân Vui

Phổ thơ Hàn Mặc Tử và Nguyễn Du, không có nghĩa là người phổ nhạc sẽ trở thành ngang hàng với Hàn Mặc Tử và Nguyễn Du. Đặc biệt là Nguyên Du chỉ có một, còn người phổ nhạc của Truyện Kiều thì có thể có rất rất nhiều. Chúng ta đã thấy Truyện Kiều đã được đưa lên sân khấu Cải Lương, và còn có người định dựng thành phim. Có người đã phổ ra “hợp xướng”, nhạc tiến hành kiểu nửa Tây nửa Ta, và định lập kỷ lục về độ dài (?) cũng như độ dai, độ dại… Và khi nghe đều thấy không ổn, nghiệp dư quá.

Đã có nhiều làn điệu Chèo, Quan Họ, Ca trù dùng thơ Kiều nhưng họ chỉ hát có 1 hay 2 khổ thơ thôi, không thể kéo dài cả một đoạn dài. Và các cụ dùng truyện Kiều cũng như một cái cớ để hát lên các làn điệu dân ca đặc sắc của ViệtNam.

 Theo tôi đừng ai định phổ nhạc thơ Kiều theo lối nửa Tây nửa Ta nữa thì hơn. Với kết cấu câu thơ 6/8 lục bát thì câu nhạc cũng phải đi theo kết cấu đó trong hàng ngàn câu (còn nếu phá cấu trúc thơ thì lại làm hỏng thơ) nó sẽ một màu, monoton và …buồn ngủ vô cùng.

 Xin đừng thêm chân cho rắn, đừng ăn theo Nguyễn Du, Hàn Mặc Tử nữa các nhạc sĩ ơi…

Khởi Nguyên

Phạm Duy là một trong các nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết ca khúc theo kiểu Tây phương mà ta vẫn gọi nó là "Tân nhạc" 

Theo tôi phải gọi cho đúng tên của Tân Nhạc là : Ca khúc phòng trà viết theo kiểu châu Âu.

Vì chữ Tân Nhạc có thể hiểu là Nhạc Mới, mà chữ Nhạc thì vô cùng phong phú, bao gồm cả khí nhạc, nhạc kịch opera vv... trong khi Tân Nhạc của ta thì chỉ có ca khúc phổ thông quần chúng viết theo lối phương Tây.

Còn về Lịch sử âm nhạc chuyên nghiệp mà những ai đã học qua nhạc viện ở bất cứ nơi nào trên thế giới, không bao giờ người ta nhắc tới các tác giả ca khúc quần chúng (không viết phần đệm). Đó là thực tế, bạn nào đã học qua nhạc viện đều thấy rõ. Thí dụ Lịch sử âm nhạc Nga, những tác giả của những bài hát rất nổi tiếng ở VN như "Chiều Mat xo cơ va", "Hoa Anh Đào", "Cachiusa" vv...Chả ai nhắc tới bởi vì bên cạnh những Tchaikovski, Mousorgski. Rimski-Koocsakov, Rakhmaninov, Prokofiev, Stravinski, Shotstakovich...vv  thì họ quá bé nhỏ

Dòng “Ca khúc phòng trà” Tân nhạc này phát triển từ đó đến nay trở thành dòng “Ca khúc quần chúng” hay “Ca khúc phổ thông”, chiếm lĩnh hầu hết nhu cầu thưởng thức về ca hát của người Việt Nam

Xin mạn phép được lướt nhanh qua những điểm chính của nền ca khúc quần chúng ở Việt Nam mong các bạn hiểu được những ý chính.

Hiện tượng Ca khúc quần chúng đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 30 với một số ca khúc mới được sáng tác và ghi theo ký âm pháp Tây phương. 
Trong những ngày đầu, hầu hết các tác giả ca khúc đều tự học hoặc chỉ có trình độ nhạc lý cơ bản, ca khúc của họ chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa lãng mạn Pháp cuối mùa về lời ca và không khí phòng trà Tây phương về âm nhạc.

Tuỳ theo các nhu cầu xã hội và chính trị cụ thể, họ pha thêm vào tác phẩm một chút thang âm ngũ cung bình quân luật trong giai điệu, và ít nhiều tính cách dân tộc chủ nghĩa và ái quốc chủ nghĩa trong lời ca.

Đặc trưng của ca khúc thời tân nhạc Việt Nam là việc sử dụng các yếu tố nhạc tính Tây phương trong hoà âm, trong thang âm bình quân luật, trong bố cục theo dạng A-B-A, trong việc sử dụng nhóm nhạc nhẹ để đệm cho giọng hát, và trong việc xây dựng tiết tấu trên sườn của các điệu khiêu vũ phổ thông như tango, valse, cha-cha, rumba, slow, v.v. 

Những nhạc sĩ đầu tiên của nền Tân Nhạc vì vốn liếng âm nhạc rất hạn chế, nên tác phẩm của họ cũng chỉ để phục vụ trong các quán bar, phòng trà là chủ yếu.

Sau một giai đoạn tình ca, ca khúc phổ thông được sử dụng để tác động vào tinh thần kháng chiến chống Pháp. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Ở miền Nam, nó được gia thêm hương vị của loại ca khúc thương mại của Mỹ và Pháp đương thời và trở thành một mặt hàng tiêu dùng cực kỳ phổ thông.

Ở miền Bắc, nó được sử dụng tối đa như một phương tiện tuyên truyền chính trị rất hữu hiệu thôi thúc toàn dân ra trận đánh Mỹ.

Như thế, sự ra đời của nó là sự ra đời của nền Ca khúc phổ thông, quần chúng, và từ đầu nó đã nhanh chóng nắm vai trò thống lĩnh trong hoạt động âm nhạc Việt Nam, và vẫn còn giữ vị trí ấy cho đến hiện nay.

Quả thực, khán thính giả Việt Nam đã bị choáng ngợp bởi hiện tượng này đến độ, đối với đa số người, khái niệm "âm nhạc" hoàn toàn đồng nghĩa với khái niệm "ca khúc quần chúng". "Nhạc" chỉ còn có nghĩa là "bài hát." Theo cái nhìn của một người hoạt động âm nhạc chuyên nghiệp, được đào tạo đầy đủ, nó chỉ là một thứ nghệ thuật nghiệp dư, Phạm Duy cũng không là ngoại lệ .

Lý Thanh Thanh

Bài viết của bác Khởi Nguyên thật chí tình ,đúng với hoàn cảnh âm nhạc của nước ta. Ông Phạm Duy hoàn toàn đúng như bác Khởi Nguyên nói " Ca khúc quần chúng" & tôi cũng đồng ý với nhận xét của Thế Tuyên , phổ bài thơ " Đây thôn Vĩ Dạ" chưa ra bản nhạc vì ông Phạm Duy phổ chưa thoát khỏi thơ... cho nên nghe nó cứ luẩn quẩn thế nào ấy . Ông Phạm Duy chỉ được vài bài ngày xưa thời mà ông chưa dinh tê ( chậy vào nam ) thôi

Nguyễn Tá Hải

Lịch sử âm nhạc Việt Nam sẽ ghi nhận Phạm Duy, Văn Cao, Trịnh Công Sơn... như những người đặt nền móng cho âm nhạc Việt Nam mới thai nghén trên dưới một trăm năm nay. Thành công và thất bại luôn đi cùng với nhau cho đến cuối cuộc đời làm nghệ thuật của một người nghệ sỹ... 

Chính Định

Bàn thêm về phổ thơ Truyện Kiều

Người Việt chúng ta ai cũng biết câu thơ lục bát, mỗi câu là một khổ thơ có ý nghĩa hoàn chỉnh:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Kiều)

Thường cả câu Lục và câu Bát mới mang trọn vẹn ý nghĩa và câu Bát là sự tiếp nối của câu Lục, điều đó rõ ràng quá, ai cũng thấy thế: Phải có Lục rồi mới có Bát, Lục trước Bát sau.

Vậy mà…trong các làn điệu Chèo (và như làn điệu Xá ở Chầu văn đã nêu) cha ông ta lại bắt đầu mỗi Trổ hát bằng câu Bát và kết mỗi Trổ bằng câu Lục ?

Sao lại có sự ngược đời như thế? Hay là các cụ không hiểu thơ?

Không, hoàn toàn không phải vậy mà đây chính là sự sáng tạo độc nhất vô nhị, vượt ra ngoài sự tưởng tượng của tất cả những thứ sách vở và vô cùng tài tình của các cụ. Mục đích là để cho dòng chảy âm nhạc, dòng chảy thơ luôn luôn không bị đứt đoạn theo nhịp điệu đều đều của  câu thơ  lục bát, các Trổ đã được “móc nối” lại với nhau về âm nhạc một cách khoa học, hoá giải được cách phổ nhạc cho tất cả các câu thơ lục bát…

Xin lấy thêm một ví dụ, điệu Du xuân của Chèo :

Mở đầu : Cỏ i i áy I bóng  ai ơi một vài i vùng xong cỏ i i áy I bóng i i  i i i i i i i i

Trổ 1: Gió i hiu  hiu thổi i i ơi ơi i a a để i một i và bông i lau ai ơi i

Cành cuống i i trâm thời sẵn i i giắt i mái đầu ai ơi

Cành cuống i trâm thời sẵn i i giắt i mái i i đầu i i i i i i i i

Trổ 2: Vạch i da  cây vịnh i i ơi ơi i a a để i bốn i câu ba i vần ai ơi

Kiều hãy còn thời  i i mẩn tâm thần ai ơi

Kiều hãy còn thời  i i mẩn tâm i i thần i i i i i i i i i.

(Tư liệu lấy từ quyển :150 làn điệu Chèo cổ của Bùi Đức hạnh)

Lời thơ trích từ truyện Kiều như sau:

Một vùng cỏ áy bóng tà

(Trổ 1)

Gió hiu hiu thổi một và bông lau

Cành trâm sẵn giắt mái đầu

(Trổ 2)

Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần

Kiều còn mê mẩn tâm thần

Các cụ đã có ý thức, có nhận biết sâu sắc về hoá giải cách phổ thơ Lục Bát một cách độc đáo như thế. Vậy mà bây giờ vẫn còn những nhạc sĩ do không hiểu biết về truyền thống phổ thơ của cha ông, cũng như non về  kiến thức âm nhạc phương Tây, nên họ đi phổ nhạc cho Truyện Kiều một cách tuỳ hứng, tuỳ tiện, chả có quy luật gì, phổ đến đâu biết đến đó, gam thì lúc Tây (7 cung) lúc Ta (ngũ cung) lúc Trưởng lúc Thứ (theo quan niệm của Tây). Khi thu thanh thì phần đệm theo hát nào là Guitare nào là organ (Như những bài hát phổ thơ Kiều của Phạm Duy)vv…Chả ra cái dạng gì.  Vậy mà họ cứ tưởng là mình hay, mình giỏi (?)…

Buồn

Phương Linh

Bài phân tích của ngài Chính Định tôi rất khâm phục thật chi tiết & rõ ràng mạch lạc. Đã từ lâu tôi đã nghĩ viết nhạc là rất khó ,không phải cứ viết được một ba bài hát thế là đã trở thành nhạc sỹ , nhưng tệ hại là ở VN ta lại rất nhiều người ngộ nhận như vậy cho nên hội nhạc sỹ VN mới đông đến thế ( hơn một ngàn nhạc sỹ ) so với các nước trên thế giới thì là đông nhất. Nhưng ta hãy nhìn lại chất lượng mà xem.. yếu ,kém.. Tôi ước gì ở VN ta nên giảm số nhạc sỹ xuống còn gần một trăm thôi để có chất lượng và để cho chúng tôi ngưỡng mộ .. bởi hai từ  NHAC SỸ là rất cao quý

Xuân Vui

Hồi những năm 1960-1970 Hà Nôi vắng vẻ lắm, cuộc sống lúc đó thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần.

Cuộc sống bây giờ đầy ắp thông tin giải trí,  nào là Tivi mấy chục kênh, nào hàng trăm loại báo, nào là in tơ nét… Hồi đó đài còn chả có mà nghe, báo muốn mua phải có tiêu chuẩn, cả ngày chả biết làm gì…vv.

Vì vậy ở Bờ Hồ hay có những đám xúm đông xúm đỏ, vòng trong vòng ngoài nào trẻ con nào người lớn xúm vào xem.

 Họ xem cái gì vậy?

Xem một người đàn ông… khắc bút, hồi đó ai có cái bút máy thì quý hơn vàng bây giờ.  Một báu vật bất ly thân, họ phải chăm sóc nó, khắc tên mình vào, trang trí hoa lá cho nó đẹp… Và vì vậy mới có nghề khắc bút ở Bờ hồ

Và vì có đông người xem. Thán phục nên người nghệ sĩ khắc bút tưởng mình giỏi, tự hào về nghề nghiệp lắm, nhìn vẻ mặt ông ta thật là nghiêm trọng trong cái công việc…sáng tạo ấy.

Rồi cái đám đông cứ lớn dần, mất trật tự, lộn xộn, làm cho ông vướng víu, ngột ngạt…

Tôi nhớ mãi đến bây giờ việc đám đông trầm trồ thán phục làm ông vừa sướng, vừa bực mình đến nỗi ông phải dừng công việc "sáng tạo" cao quý của mình lại. Ông gào lên: đi đi, giải tán đi, tránh ra cho người ta làm nghệ thuật.

 Trong nghề viết ca khúc ở Việt Nam, chỉ cần có trình độ "nghệ thuật" của ông khắc bút là đã có thể làm cả đám đông tôn vinh là thiên tài, xúm đông xúm đỏ lại khen

Nhưng nên nhớ là chỉ ở Việt Nam thôi...

Vô danh

Đọc qua một loạt comments mới biết có nhiều người "giỏi nhạc" đến thế! Và PD còn tiếp tục bị "hội đồng" vì "tài năng kém cỏi" của ông ấy! Cứ một năm người ta "cho phép" thêm khoảng 10 ca khúc thì những người này còn phải dành cả hơn 100 năm nữa để "hội đồng" ông ấy!

Có tài năng, hiểu biết âm nhạc siêu phàm thì hãy chứng minh cho thiên hạ biết đi.

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác