Trang chủ | Thứ hai, 27/03/2017 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 13766587
Trang chủ » Tin chung

ĐẶNG THÁI SƠN VÀ 5 CONCERTO CỦA BEETHOVEN

Thứ ba, 08/01/2013

CHƯƠNG TRÌNH

15 tháng 01 năm 2013

Concerto no. 1 in C major, Op. 15/  Tác phẩm no. 1 giọng Đô trưởng, Op. 15

Concerto no. 2 in B-flat major, Op. 19/ Tác phẩm no. 2 giọng Si giáng trưởng, Op. 19

Concerto no. 3 in C minor, Op. 37/ Tác phẩm no. 3 giọng Đô thứ, Op. 37

18 tháng 01 năm 2013

Concerto no. 4 in G major, Op. 58/ Tác phẩm no. 4 giọng Son trưởng, Op. 58

Concerto no. 5 in E-flat major, Op. 73/ Tác phẩm no. 5 giọng Mi giáng trưởng, Op. 73

Chỉ huy Honna Tetsuji và Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam                    

dang thai sonĐặng Thái Sơn là con của nhà thơ Đặng Đình Hưng và nữ nghệ sĩ dương cầm Thái Thị Liên - một trong những nữ nghệ sĩ dương cầm đầu tiên của Việt Nam tốt nghiệp khoa Dương cầm tại Nhạc viện Prague - Tiệp Khắc. 

Sơn bắt đầu học piano với mẹ từ năm 4 tuổi. Năm Sơn 12 tuổi (1970), mẹ của Sơn trở về từ cuộc thi Chopin (Warszawa – Ba Lan) đã mang theo những đĩa nhạc Chopin. Những bản polonaise bất hủ, những bản prelude, những điệu vũ nhạc marzuka... của Chopin đã làm tâm hồn nhạy cảm của Đặng Thái Sơn trở nên ngây ngất.

Năm 1974, giáo sư âm nhạc người Nga Isaac Katz trong 6 tháng phụ trách bộ môn âm nhạc cổ điển Tây phương tại nhạc viện Hà Nội đã phát hiện ra Đặng Thái Sơn và góp tiếng nói, đề nghị Nhà nước cho anh được sang Nga đào tạo tại nhạc viện Tchaikovsky (Nga).

Sau 10 năm sống ở Nga (1977-1987) anh dạy nhạc tại Kunitachi Music College (Tokyo, Nhật Bản). Năm 1991, anh định cư tại Montréal, Canada và dạy ở Đại học Montréal. Từ năm 1995, cùng với mẹ, Đặng Thái Sơn đã nhập quốc tịch Canada.

Năm 1980, Đặng Thái Sơn vinh dự nhận giải nhất cuộc thi piano quốc tế Chopin lần thứ 10, tại Warszawa (Ba Lan). Anh là người châu Á đầu tiên được nhận giải thưởng này.

Năm 1984, Đặng Thái Sơn là một trong những nghệ sĩ đầu tiên được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Khi đó ông mới 26 tuổi và là nghệ sĩ nhân dân trẻ nhất khi được trao tặng danh hiệu này từ trước đến nay.

Năm 1999,  Đặng Thái Sơn là nghệ sĩ piano duy nhất không phải là người Ba Lan được mời đến dự buổi hòa nhạc nhân kỷ niệm 150 năm ngày mất của Chopin. 

Tại Gala kỉ niệm 200 năm ngày sinh của Chopin tháng 3 năm 2010, Đặng Thái Sơn là một trong 3 nghệ sĩ toàn cầu được chọn để biểu diễn (cùng Lý Vân Địch người Trung Quốc và Garrick Ohlsson người Mỹ).

Đặng Thái Sơn từng được mời lưu diễn tại hơn 40 nước trên thế giới. 

Anh được vinh danh “Giáo sư danh dự” của Học viện Âm nhạc Bydgoczsz, Ba Lan,

“Giáo sư danh dự” của Trường Đại học Âm nhạc Kunitachi tại Tokyo (từ năm 1987). 

Là người Á Đông đầu tiên được chọn vào Ban giám khảo Concours Chopin năm 2005.

Anh là chủ đề về câu chuyện “Người được Chopin chọn” do hãng sản xuất Yahama Music Media Corporation xuất bản năm 2003.

Hiện nay, Đặng Thái Sơn đang giảng dạy cho sinh viên Khoa Âm nhạc Trường Đại học Montreal – Canada.

          Trong quá trình cống hiến và biểu diễn của mình, Đặng Thái Sơn đã thu âm cùng rất nhiều các dàn nhạc trên thế giới, cộng tác với nhiều hãng thu âm như Deutsche Grammophone, Melodya, Polskie Nagrania, CBS Sony, Analekta, Victor JVC, và Fryderyk Chopin Institute.

          Bản thu âm mới nhất cùng Chopin National Institute in Poland được anh chơi trên 02 cây đàn: “Erard 1849” và “Steinway & sons”.

Mùa diễn 2012 – 2013 của nghệ sĩ độc tấu piano Đặng Thái Sơn bắt đầu bằng chuyến lưu diễn tại Brazil cùng dàn nhạc Orchestra della Svizzera italiana of Switzerland. Tháng 11/2012, anh và dàn nhạc New Japan Philharmonic đã biểu diễn toàn bộ chuỗi 05 tác phẩm lãng mạn của Beethoven viết cho đàn piano và dàn nhạc với 02 đêm hòa nhạc tại Tokyo.

          Tháng 01/2013, chuỗi 05 tác phẩm viết cho đàn piano và dàn nhạc của Beethoven được nghệ sĩ Đặng Thái Sơn biểu diễn cùng Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam vào 02 đêm hòa nhạc ngày 15 và 18 tại Nhà hát lớn, thủ đô Hà Nội.

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM:

CONCERTO PIANO SỐ 1, GIỌNG ĐÔ TRƯỞNG OP.15

Lần xuất bản đầu tiên, tháng 3-1801 tại Vienne, concerto này là bản thứ hai được sáng tác và hoàn thành: được ghi ngày tháng, như là bản Concerto số 2, cuối năm 1795 hay 1796, nó được sửa lại vào năm 1798 khi Beethoven soạn cho nó ba phần cadence khác nhau, và có thể là được trình diễn ở Vienne bởi tác giả vào ngày 2-4-1800. Beethoven cũng ít yêu thích bản concerto này như bản được sáng tác trước nó, ông tuyên bố là nó "chưa thuộc vào hàng hay nhất của ông của thể loại" và yêu cầu sự khoan dung đối với một tác phẩm mà ông coi là "đã của quá khứ". Người được tặng tác phẩm là công chúa Odescalchi.

Dàn nhạc vẫn còn theo kiểu Mozart (nhưng với 2 clarinettes mang lại những biến đổi âm sắc tinh tế). Như vậy là có: 1 flute, các kèn gỗ mỗi loại 2, 2 cors và 2 trompettes, timbales, đàn dây (cần ghi nhận là ngay từ bây giờ, biên chế này ít tiến triển từ bản concerto này đến bản khác). Độ dài biểu diễn trung bình: 35 - 37 phút.

Ba chương nhạc là: Allegro con brio, Largo và Rondo (Allegro scherzando). 

Nếu như ảnh hưởng kép về phong cách của một Haydn và một Mozart đã biểu hiện ở đây (dường như ở chương kết ảnh hưởng của Haydn là nổi bật), sẽ là bất công khi không thừa nhận một số những nhấn giọng rất rõ nét của Beethoven - đặc biệt là ở chương giữa.

I. Allegro con brio

Chương thứ nhất được mở đầu bằng một phần dạo nhạc quan trọng của dàn nhạc (105 nhịp) với phần trình bày hai chủ đề trên đó đàn piano khắc hoạ những nét trang trí uốn lượn tinh tế (quãng 3 đi lên và đi xuống) bằng những công thức khá mang tính quy ước.

II. Largo

Chương Largo (la giáng thứ) là một kiểu lied trong đó phần piano là thống trị, không chỉ là ở sự dẫn dắt giai điệu mà cả trong sự tô điểm, và cho đến cả những sự chuyển tiếp khác nhau; dàn nhạc đáp lại piano với tính chất thanh thản. Sự nhấn mạnh một tình cảm sâu kín và trìu mến âm thầm được thực hiện một cách tuyệt vời ở việc sử dụng kèn clarinette độc tấu.

III. Rondo (Allegro scherzando)

Chương Rondo cuối cùng nhẹ nhàng hào nhoáng, đôi khi có tính chất kiên nghị nam tính, mang lại sự ngạc nhiên về tính vui vẻ tiết tấu của nó, về sự khởi âm rõ ràng, về những nghịch phách khác thường của nó. Điệp khúc và hai couplets - trong đó couplet thứ hai đượm chất fantaisie hài hước.

CONCERTO PIANO SỐ 2, GIỌNG SI GIÁNG TRƯỞNG OP.19

Thực ra đây là bản sáng tác đầu tiên và được Beethoven biểu diễn lần đầu trước công chúng vào ngày 29-3-1795. Nhưng có lẽ nó đã được chỉnh sửa vào năm 1798 trong chuyến đi Prague và hoàn thành trọn vẹn vào tháng 4-1801 cũng là ngày được xuất bản (trong khi đó bản số 3 đã được khởi công).

Chính tác giả nói: "Một bản concerto mà tôi không cho là thuộc vào loại những tác phẩm ưu tú của mình…". Sự trình diễn tuy vậy đã được báo Wiener Zeitung đưa tin: "Ông L.V. Beethoven nổi tiếng đã thu được sự tán thưởng của công chúng. Người được tặng tác phẩm là Charles Niekl de Niekelberg”.

Dàn nhạc rất nhỏ (không có clarinette, cũng không có trompettes như trong bản Concerto số 01, không có timbales. Độ dài biểu diễn trung bình: 27 - 28 phút.

Ba chương của concerto là: Allegro con biro, Adagio và Rondo (Molto allegro).

Concerto số 2 là bản ít được yêu thích trong số 5 bản: hẳn đây là bản kém chín muồi nhất, do dự nhất, tuy nhiên tính chất ở đây rõ ràng nhất: sự tương phản về chủ đề - có thể nhận thức được ngay từ những nhịp đầu tiên của tác phẩm - giữa sức sống bên ngoài với tình cảm chiêm ngưỡng nội tâm, nghi vấn.

I. Allegro con biro: phần mở đầu và phần trình bày là toàn tấu một chủ đề về cơ bản là tiết tấu, trong khi chủ đề hai mang tính giai điệu, phần độc tấu làm nổi bật sự đối lập này. Phần phát triển phân thành bốn bộ phận.

II. Adagio: hình thức sonate không có phần phát triển, giọng mi giáng trưởng - bộc lộ chất trữ tình khá mãnh liệt, tham gia vào đó là đàn piano với phong cách trang trí (chú ý đặc biệt là đàn piano đã kết thúc chương Adagio này bằng một sự trình bày tinh tế và rất thuần khiết về giai điệu hoàn toàn không có sự thống thiết giả tạo).

III. Rondo (Molto allegro): tính chất kỹ xảo điêu luyện với đoạn điệp khúc vui vẻ được trình bày bởi nghệ sĩ độc tấu và hai đoạn couplets gợi lên những điệu dân vũ (mà Beethoven chắc chắn đã nghe được trong những cuộc tản bộ ở vùng nông thôn ngoại ô của Vienne). Cần ghi nhận là chương kết này được viết vào buổi sáng sớm chỉ sau một đêm sáng tạo tác phẩm.

CONCERTO PIANO SỐ 3, GIỌNG ĐÔ THỨ OP.37

Tác phẩm này được viết hoặc chí ít được phác thảo vào năm 1800, nhưng chắc hẳn chỉ được biết ở dạng cuối cùng của nó vào năm 1802, được biểu diễn lần đầu tiên trong dịp một cuộc hòa nhạc lớn ở Vienne vào ngày 5-4-1803 (cùng với bản oratorio Chúa Kitô ở dãy núi Oliviers và bản Symphonie số 2); được xuất bản tháng 11-1824 tại Vienne, có lời đề tặng cho ông Hoàng Louis-Ferdinand của Phổ. Đây chắc chắn là bản concerto "lớn" đầu tiên của Beethoven - trong giọng đô thứ thân thiết của nhà soạn nhạc, - đánh dấu một sự tiến bộ rất rõ rệt trong sự cân đối giữa nhà độc tấu và dàn nhạc, cuối cùng đã được đối xử như những bạn đồng diễn thực.

Biên chế dàn nhạc: kèn gỗ mỗi loại 2; 2 cors và 2 trompettes; không có timbales, đàn dây. Độ dài biểu diễn trung bình: 35 - 37 phút.

Các chương nhạc có tên sau: Allegro con brio; Largo, Rondo (Allegro).

I. Allegro con brio: có hình thức sonate với hai phần trình bày đầy đủ, - mở đầu chương nhạc trong đó dàn nhạc trình bày các chủ đề mà piano sẽ nhắc lại. Chủ đề mở đầu giọng đô thứ khẳng định tính chất động lực đôi chút trang trọng với sự nhấn dằn từng tiếng gần như thượng võ, người ta có thể so sánh rất rõ với chủ đề của Eroica.

Chủ đề hai đáp lại bình thản và ca hát ở giọng mi giáng. Một cuộc hội thoại thực sự có tính hòa tấu được thiết lập giữa độc tấu và dàn nhạc, bằng một phần phát triển rộng lớn trong đó đàn piano chuyển giọng rất nhiều. Sự giải phóng đáng kể của cây đàn này so với hai bản concerto trước. Sự đối đáp của nó đã chinh phục một tính chất minh bạch của nét nhạc, sự phong phú về phân câu còn chưa được biết đến. Phần tái hiện càng khẳng định điều đó, - trước một coda được tạo nên từ chủ đề đầu.

II. Largo (giọng mi trưởng): có hình thức ba đoạn với một phần trung tâm quyến rũ lạ thường, trong đó đàn piano tô điểm theo lối rải hợp âm của đàn harpe một làn điệu được chia sẽ giữa flute và basson. Một giọng hát rất thuần khiết, "nhiệt tình sâu sắc" (André Boucourechliev), thổ lộ tâm tình trong hai bè ngoài cùng, trong khi đó, ở sự nhắc lại có tính chất kết của chủ đề chính, đàn piano chưa tỏ ra điêu luyện trước đó, đã tỏa sáng rực rỡ. Chương nhạc trong bối cảnh gần như dạ khúc, và về bản chất có tính hòa thanh hơn là giai điệu đúng nghĩa của nó, trong đó piano là vua.

III. Rondo (Allegro): một sự trao đổi chặt chẽ đầy tinh thần và hào hứng, - với những đoạn chen tương phản và chuyển giọng, đoạn điệp khúc có những nhấn giọng nghịch phách, mang dáng dấp của một fantaisie rất tự do. Đặc biệt chú ý, một nét nhạc đẹp tính chất fugue (couplet thứ ba). Đàn piano đột ngột dẫn đến điệu tính mi trưởng (đặc tính của chương Largo trước đó), trong khi đoạn Presto kết thúc một cách kiên quyết, chinh phục, giọng đô trưởng, rạng rỡ.

CONCERTO PIANO SỐ 4, GIỌNG SOL TRƯỞNG OP.58

Tác phẩm được phác thảo vào năm 1802-1803, trong dịp sáng tác bản symphonie "anh hùng" và được viết phần lớn vào năm 1805, hoàn tất năm 1806 hoặc đầu năm 1807. Được biểu diễn lần đầu tiên trước công chúng ngày 22-12-1808 tại Vienne, ở Nhà hát Theater an der Wien (cùng với các bản symphonies số 5 và số 6), xuất bản tháng 8-1808, đã có lời đề tặng cho Quận công nước Áo (lúc đó 19 tuổi và là học trò của Beethoven được một thời gian).

Trong bản Concerto số 4 này, Beethoven đã hoàn tất việc vượt khỏi các giới hạn của một "thể loại" mà bản concerto số 3 đã nhằm vượt qua. Không chút nào nghi ngờ đây là một tuyệt tác của văn liệu piano hòa tấu - cũng có thể nói là của piano nói chung. Chưa bao giờ, ngay ở cả Mozart, cây đàn đã tỏ ra có sự tiêu khiển tự do đến thế bởi những ngẫu hứng một cách dễ dàng tuyệt vời như là giải phóng mọi sự câu thúc về hình thức. Và trong chương chậm trung tâm kỳ diệu - đỉnh cao của tác phẩm - ngay cả sự im lặng dường như cũng có một ý nghĩa hùng biện và mới mẻ đến mức làm cho ta có thể tưởng tượng được không khó khăn sự kinh ngạc như thế nào của những lần biểu diễn đầu tiên. Vả chăng còn cả sự ngạc nhiên của chúng ta!

Dàn nhạc giống như ở Concerto số 3,  nhưng chỉ có 1 flute và có sử dụng timbales. Độ dài biểu diễn trung bình: 31 - 32 phút.

Ba chương được nối tiếp như sau: Allegro moderato, Andante con moto và Rondo vivace.

I. Allegro moderato: hình thức sonate. Tuy nhiên, trái với truyền thống chủ đề chính được trình bày ngay, dịu dàng, bởi người độc tấu với một sự giản dị tối đa, đây chính là một đổi mới thực sự.

Chủ đề gợi nhớ đến một động cơ của symphonie số 5, được mở rộng một cách hào phóng bởi toàn tấu dàn nhạc, nhưng không từ bỏ tính chất trữ tình chung, đã dẫn đến chủ đề hai có tiết tấu chấm. Nhiều ý nhạc phụ dường như làm u ám không khí được đàn piano đảm đương làm biến đổi vô tận trên sự trao đổi động cơ giữa đàn dây và kèn hơi. Trong quá trình phát triển gồm bốn bộ phận, chủ đề chính duy trì tính ưu việt rõ rệt, và đàn piano làm nổi bật những sự tham gia của nó với sự mạnh dạn kéo dàn nhạc theo mình.

II. Andante con moto (giọng mi thứ): có chủ đề tính chất tiết tấu nghiêm trang khắc khổ, khẩn thiết gần như tàn nhẫn, được trình bày bằng những hợp âm của dàn nhạc, đối lập với chủ đề dịu dàng, thậm chí than vãn của đàn độc tấu, - như sự "đấu tranh giữa hai nhân vật tính chất khác nhau" (Vincent d'Indy); sự đấu tranh vả chăng, ở đây rất không cân sức, - được thơ mộng hóa bởi một tiếng hát của piano, dần dần dẫn đến một phần cadence rộng, phong phú và đẹp đẽ, không kiểu cách vô ích. (Người ta không có thể nói được như vậy với tất cả các phần cadences được tưởng tượng ra bởi các nhà biểu diễn nối tiếp nhau, xem tiếp sau đây cadence của chương Rondo kết). Chủ đề đầu tiên được chia nhỏ, phân tán, - cho đến sự lắng dịu xa xăm của lần quay lại cuối cùng. Tiếp theo đoạn nhạc khá ngắn này chương cuối được liên kết mau lẹ, gần như không có sự chuyển tiếp.

III. Rondo vivace: chủ đề chính sắc sảo, nghịch phách nhẹ nhàng (trên các chùm ba), được trình bày bởi đàn dây và được đàn piano vồn vã đón nhận, một sự hòa hợp chinh phục với người bạn diễn là dàn nhạc sau những cuộc "chiến đấu" trong các chương nhạc trước. Hết sức hào nhoáng với những hợp âm rãi gẫy (arpèses brisés), chương kết này - trong hình thức ABABAB - thấy lại tinh thần truyền thống hơn các bản concerto trước không phải không đổi mới một lần nữa bằng sự tự do dẫn dắt chủ đề và một tính chất khiêu khích nào đó của "giọng điệu" mà ở đây nữa biểu lộ sự luân phiên có tính chất chu kỳ giữa sự êm dịu và sự mãnh liệt, bộc lộ dấu ấn của Beethoven giao hưởng: một phần cadence[ đi trước coda.

CONCERTO PIANO SỐ 5, GIỌNG MI GIÁNG TRƯỞNG OP.73

Đây là bản concerto cuối cùng của nhà soạn nhạc viết cho piano - được sáng tác vào năm 1809 trong những hoàn cảnh bi đát: được khởi công cùng thời gian với những sự chuẩn bị chiến tranh của Áo, nó bị gián đoạn vì những cuộc ném bom, rồi đến sự chiếm đóng thủ đô vương quốc, - hòa hội Vienne, tháng 10/1809, tái lập những điều kiện sống thuận lợi cho việc hoàn thành tác phẩm. Tuy nhiên đó là năm có nhiều tác phẩm ra đời - đặc biệt là Tứ tấu đàn dây số 10 "Những đàn harpes" và bản Sonate tuyệt diệu cho piano "vĩnh biệt".

Beethoven - chưa đầy 40 tuổi nhưng thiên tài của ông chưa được hoàn toàn thừa nhận - lúc này đã có một điều kiện vật chất ổn định nhờ sự can thiệp của Quận công Rodolphe, người được tặng bản concerto số 5 (cũng như bản số 4). Tuy nhiên tác phẩm không được trình diễn ở Vienne mà ở Gewandhaus Leipzig vào tháng năm 1811 và được nhận xét là: "Độc đáo, đầy sự phóng túng… tạo được hiệu quả". Lần trình tấu đầu tiên ở Vienne chỉ được diễn ra vào năm 1812, vẫn trong một tình trạng không được thông cảm.

Từ rất sớm, tác phẩm được đặt biệt danh là "Hoàng đế) (hoặc "của Hoàng đế"), - không phải là không lạm dụng; bản thân Beethoven cho các nhà xuất bản biết rằng ông chỉ chấp nhận một cái tên là "Bản concerto lớn". Điều gì mà bản concerto số 4 - vốn đã là cách tân - báo hiệu như một sự vượt quá một thể loại, thì bản số 5 đã thực hiện điều đó một cách bậc thầy. Phần nhạc độc tấu chắc chắn đòi hỏi một cây đàn piano hòa tấu hiện đại lớn (mà những concertos của Mozart chưa yêu cầu, kể cả những concertos đầu của Beethoven).

Tuy nhiên dàn nhạc vẫn trong những tỷ lệ "cổ điển": Kèn gỗ mỗi loại 2: 2 cors và 2 trompettes, timbales; ngũ tấu dây. Độ dài biểu diễn trung bình: 38 - 41 phút.

Ba chương nhạc như sau: Allegro, Adagio un poco mosso; Rondo (Allegro ma non troppo).

I. Allegro: mở đầu bằng một cadence huy hoàng của nhạc cụ độc tấu trên một hợp âm lớn của dàn nhạc - hợp âm này như một ngẫu hứng tự do. Toàn tấu được nối tiếp vào, khẳng định ngay tức thì tầm rộng lớn giao hưởng của tác phẩm, và tầm vóc của nó (gần 600 nhịp chỉ riêng cho chương Allegro). Điệu tính mi giáng trưởng cũng thể hiện sự mạnh mẽ kiêu hãnh và anh hùng của nó (cũng như vậy, điệu mi giáng cũng được chọn cho chương đầu của "Eroica")[1]. Và đúng là một tình cảm hoan hỉ mãnh liệt đã thấm đượm chủ đề chính đầu tiên, được giới thiệu trong tất cả sức mạnh công kích của nó. Trong sắc thái pianissimo, chủ đề hai huyền bí hơn, liên kết gần như với một cách thức của một hành khúc tang lễ và trong một nhịp điệu kìm giữ hơn - đầu tiên ở điệu thứ, tiếp đến nhắc lại và làm cho sáng ra bằng điệu trưởng ở các kèn gỗ. Chương nhạc được viết toàn bộ trong hình thức  sonate, nhưng được mở rộng rất lớn trong những sự phát triển của nó, và - trong quá trình đối thoại bằng "biến tấu" giữa piano và dàn nhạc - đã bao quát ở đây một chu trình hòa thanh rộng lớn. Người ta chú ý đến, trong lối viết piano, biên độ cực điểm của bàn phím, cũng như tầm quan trọng của các láy rền (trilles) có thể cáng đáng một câu giai điệu hoàn chỉnh. Sau phần tái hiện hai chủ đề, một cadence ngắn trên chủ đề hai đã dẫn đến kết thúc.

II. Allegro un poco mosso: đây là một sự trầm tư tuyệt vời trong điệu tính si trưởng êm dịu và thanh thản. Nhưng có thể nào mà người ta chỉ nói về sự trầm tư mà thôi? Dường như ở đó đã thấm sâu một sự "giao kết" của người nhạc sĩ, tiếp giáp với tính chất tinh thần chân chất nhất. Các đàn dây khắc hoạ một chủ đề có tính nghiêm trang tôn giáo, như một bản choral - được đặc trưng hóa một cách cơ bản bởi sự đơn giản tuyệt đối về giai điệu của nó.

Một tiếng hát rộng rãi của piano trong cùng không khí này - với những láy rền đi lên bằng chromatique của nó và nó bay lượn bên trên dàn nhạc, hoặc có vẻ hỏi han rồi trả lời cho nó. Một sự tham gia kín đáo của các kèn cors dạo đầu cho sự liên kết bằng chuyển giọng đẳng âm với chương kết được đàn piano khơi gợi lên động cơ chính của nó bằng những nét nhạc đi lên trong sắc thái pianissimo.

III. Allegro ma non troppo: thực tế, động cơ này đã cho nghe trên bốn nhịp, trong một kiểu lơ lửng gần với sự tĩnh lặng, rồi bất ngờ bùng nổ trong tất cả sự cuồng nhiệt tiết tấu của nó, - với sự trở lại giọng mi giáng trưởng.

Đó là đoạn điệp khúc của Rondo kết thúc, một sự bay bổng lôi cuốn, được xây dựng trên cơ sở đối lập tiết tấu phân hai (tay phải của piano) với phân ba (tay trái), - và  tiếp đó nó mang dáng dấp của một vũ khúc dân gian. Suốt chiều dài của chương nhạc, phần piano độc tấu phô bày một sự ngây ngất nồng nàn sánh ngang với một số toàn tấu dàn nhạc. Một láy rền dài của piano trên nốt si giáng dạo trước cho phần quay lại. Chỉ có phần kết mới đạt tới sự làm dịu đi bao tính chất kỹ xảo điêu luyện trên một rung âm âm thầm và xa xăm của timbales, - bằng một thể thức tiết tấu kiên trì. Coda mau lẹ và huy hoàng bằng "chiến thắng" cuối cùng.

Tác phẩm sáng chói và sâu sắc có một sự cân đối hoàn thiện, tuy nhiên quá nhiều những sự mới mẻ đã nuôi dưỡng toàn bộ trường phái âm nhạc lãng mạn (một Schumann, một Liszt, một Brahms), bản Concerto số 5 này vẫn là một tác phẩm chính của biểu mục cho piano, - cũng thường xuyên được biểu diễn như bản Concerto số 4. Bởi vì ngược lại với những người đương thời của tác phẩm, các thính giả ngày nay luôn luôn tỏ ra nhạy cảm hơn với sự phong phú vô tận của nó.

* Giao vé miễn phí/ Ticket free delivery: 0913 489858, 0983 067996.

* Vé được bán tại/ Tickets are available at:

- Phòng vé Nhà hát lớn Hà Nội/ The Ticket Counter of Hanoi Opera House.

- Sketch Travel Hanoi Aodai Tour Desk, 25 Trương Hán Siêu, 043 9449510.

- Shop P, 8 Nhà Chung, 0168 5144746.

- Public Relations & Concert Management Department, VNSO, 043 8331448.

* Thông tin liên hệ/ Contact info: Nguyễn Hoàng Việt, Mr. 0914 389272,

- Mail: ngeevie@gmail.com; - Website: www.vnso.org.vn;

- Facebook: www.facebook.com/vietnamnationalsymphonyorchestra

Ý kiến bạn đọc

Chính Đạo

Bất kỳ khi nào ta để cạnh nhau những dòng nghệ thuât cao quý, trí tuệ, tinh hoa lẫn với những dòng nghệ thuật thương mại, tầm thường thì cái cao hơn bao giờ cũng bị phá huỷ chứ không phải cái thấp hơn.

Đó là quy luật, cái cao hơn bao giờ cũng thua, vì nó tinh tế thế, mềm mại thế, nó rất mong manh, mảnh mai như đoá hoa.

Nếu bạn nghiền đoá hoa bằng đá (ROCK), đá sẽ không bao giờ bị phá huỷ.

Đá (ROCK) thậm chí cũng không biết rằng đã có va chạm.

Nhưng những nghệ thuật tinh hoa sẽ mất đi, đoá hoa sẽ bị nghiền nát, bị phá huỷ…

Nguyễn Nguyên

Bác Chính Đạo nói hay quá. Bác còn suy nghĩ gì về vấn đề này hay về Đặng Thái Sơn nhân nghệ sĩ này về Việt Nam biểu diễn thì nói thêm cho chúng tôi nghe. Chúc bác sức khỏe.

Chính Đạo

Mời bạn Nguyễn Nguyên đọc thêm bài báo đã đăng trên Tuần Vietnamnet,

http://tuanvietnam.net/2010-10-03-khi-dang-thai-son-khong-the-dich-lai-huong-lan-tuan-vu

 

Xin cải chính tiêu đề đúng của bài báo là :"Khi Đặng Thái Sơn ra đi và Hương Lan - Tuấn Vũ trở về" . Sau đó ban biên tập VNN đổi tiêu đề cho câu khách là : "Khi Đặng Thái Sơn không thể địch lại Hương Lan - Tuấn Vũ" là sai ý tác giả, ĐTS đâu có cần địch lại với bất cứ ai. Chỉ có đất lành thì chim đậu thôi

Xin trích một đoạn trong bài báo trên:

"Thời gian gần đây, người Việt Nam theo dõi các chương trình thời sự trên Ti vi không khỏi kinh hoàng về hiện tượng: hàng trăm con bò ở Thái Nguyên và Long Xuyên được người dân chăn thả, nuôi theo cách cho chúng đến ăn ở những bãi rác thải của thành phố. Rác thải (kể cả rác thải y tế) này còn được phun thuốc diệt ruồi nên đến ruồi cũng tránh xa.

Vậy mà qua màn ảnh nhỏ, chúng ta thấy cả đàn bò hàng trăm con ăn rác bẩn một cách ngon lành, béo tốt và điều khủng khiếp nhất ở đây là: chúng không còn chịu ăn cỏ tươi nữa? Chúng đã thích nghi với món ăn mới sau khi đã được rèn luyện thành thói quen.

Tạo hoá sinh ra trâu, bò hoặc voi ...vv chủ yếu ăn cỏ (trời sinh voi trời sinh cỏ mà), vậy mà chúng không ăn được cả những thứ trời sinh đó nữa khác nào chúng đã đi ngược lại với tạo hoá, ngược lại thiên nhiên, ngược lại quy luật, vậy thì sẽ có sự trả giá thôi, chắc chắn là như thế!

Đấy là chuyện món ăn vật chất, còn món ăn tinh thần thì cũng có điểm tương đồng: nếu ta cứ khuyến khích thế hệ trẻ nghe và ta  cứ quảng bá  những loại nhạc "rác", nhạc bình dân, ca khúc quần chúng mãi, thì rồi sẽ đến một lúc họ sẽ quay lưng lại với Bach, Beethoven, Chopin..  với Quan họ, Chèo, Ca trù... với văn hoá đích thực. Đó sẽ là chuyện tất yếu và đã xảy ra rồi.

Đá (rock) sẽ nghiền nát hoa.

Viettq

Tôi thấy 1-2 năm trở lại đây nhạc thính phòng đã có chỗ đứng tốt hơn so với 5-6 năm về trước. Ngày trước vé vào nhà hát bán được rất ít, tôi đi nghe nhạc bằng vé mời rất nhiều. Giờ tôi phải đặt mua vé trước cho hầu hết các buổi hòa nhạc. Điều đó không tốt về tài chính cho tôi nhưng là dấu hiệu tốt cho những người làm nhạc cổ điển. Tôi thì không quan tâm lắm các mảng âm nhạc khác họ làm gì, việc một xã hội tồn tại nhiều hình thức âm nhạc là chuyện bình thường. Ngay cả ở Mỹ số người trẻ tuổi nghe nhạc cổ điển cũng không phải phổ biến. Hai trong số những người bạn Mỹ tôi biết rất quen thuộc với polonaise "military" nhưng lại chẳng biết mấy bản nocturne quen thuộc của Chopin. Điều đó phần nào nói lên rằng họ chỉ nghe những gì họ thích. Hãy để khán giả tự chọn lấy thứ mình thích, đừng nhồi họ. Không phải cứ phát toàn nhạc cổ điển và cấm Tuấn Ngọc về nước thì sẽ phát triển được nhạc cổ điển. Thêm nữa là đổ tại Tuấn Ngọc làm Đặng Thái Sơn không về nước hoạt động nhiều là không đúng, không công bằng.

Nguyễn Bá Tấu

Thưa bạn Vietq, đúng và công bằng là tiêu chí của một xã hội văn minh. Mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội đều nhắm đến tiêu chí này, trong đó có việc nâng cao dân trí về thưởng thức âm nhạc bác học. Thiết nghĩ ở VN ta một tài năng như Đặng Thái Sơn cũng phải vài trăm năm mới xuất hiện một lần. Hoa Kỳ là một cường quốc về kinh tế, quân sự và nhiều lĩnh vực khác, nhưng chưa có những tài năng lừng danh để thể hiện thành công âm nhạc của Bach, Beethoven, Chopin v.v... Điều đó nói lên rằng, việc cảm nhận và thưởng thức loại hình âm nhạc bác học phụ thuộc rất nhiều vào phông văn hóa của một dân tộc. Tôi thấy ý kiến của bạn Chính Đạo rất đúng : "nếu ta cứ khuyến khích thế hệ trẻ nghe và ta cứ quảng bá những loại nhạc "rác", nhạc bình dân, ca khúc quần chúng mãi, thì rồi sẽ đến một lúc họ sẽ quay lưng lại với Bach, Beethoven, Chopin.. với Quan họ, Chèo, Ca trù... với văn hoá đích thực. Đó sẽ là chuyện tất yếu và đã xảy ra rồi...".

Viettq

Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng tại những ca sĩ như Tuấn Ngọc được hỗ trợ tốt mà Đăng Thái Sơn phải ra nước ngoài hoạt động. Còn về đoạn trích trên, tôi không có ý kiến. Cảm quan chung của tôi về bài viết của bác Chính Đạo là bác hơi bi quan, tôi thấy thái độ của xã hội đối với nhạc cổ điển nói riêng và nghệ thuật cổ điển nói riêng ngày càng tích cực. Gu thẩm mỹ cũng được nâng cấp, ít nhất là so với 5-10 năm trước đây. Đem so với thời sau trước và sau giải phóng theo tôi hơi khập khiễng, vì thời đó dân ta có quá ít lựa chọn, nhạc cổ điển thời đó được hậu thuẫn rất tốt (nhưng theo tôi ko phải hoàn toàn vì giá trị nghệ thuật).

Minh Hằng

1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc phải làm sao trang bị cho công chúng những kiến thức cơ bản về âm nhạc, để họ có đủ những hiểu biết tối thiểu về loại hình nghệ thuật âm nhạc; đồng thời phải định hướng được công chúng về giá trị thẩm mĩ âm nhạc đích thực. Ở các nước phát triển như Mĩ, châu Âu, họ làm rất tốt công việc này. Ở ta thì... chả làm gì, nghĩa là tạo ra một môi trường xã hội tự do quá trớn, phát triển tự phát, mạnh ai người đó làm, ai cũng có thể xưng hùm xưng bá. Cách điều hành xã hội âm nhạc như thế là đang quay trở về thời kì hái lượm, phát triển theo bản năng chứ không theo khoa học mà ở xã hội văn minh đó là điều kiện tối thiểu cần phải tuân theo. 

2. Ở VN, nhạc cổ điển chưa bao giờ thật sự có chỗ đứng trong lòng công chúng. Tại sao vậy? Tại vì chúng ta chưa có xã hội âm nhạc. Nhạc cổ điển thế giới cũng đang rơi vào khủng hoảng, khủng hoảng từ quan điểm sáng tác, từ hình thức âm nhạc, cho đến các nhà soạn nhạc và cuối cùng là khủng hoảng công chúng yêu nhạc cổ điển. Thử đọc cuốn "Ai đã giết chết nhạc cổ điển - Who killed classical music" của tác giả Norman Lebrecht sẽ thấy ngay sự khủng hoảng ở các vương quốc âm nhạc ra sao? Ngay như ở Anh, Pháp, Mỹ, Đức... công chúng cũng đồng loạt quay lưng lại với nhạc cổ điển. Họ quay lưng lại bởi những lí do khách quan từ đời sống xã hội tác động vào, từ nội tại chính nhạc cổ điển, từ sở thích của khán thính giả. Chuyện sở thích của từng cá nhân cụ thể chỉ là một khía cạnh nhỏ, trong xã hội âm nhạc phát triển thì đó là quyền tự do của mỗi con người, là cách ứng xử văn minh trong cộng đồng phát triển ấy. Mong muốn thanh niên tuổi teen nghe ngày này qua ngày khác nhạc cổ điển, còn ông già bà lão đến các sân khấu đại nhạc hội nghe gào thét rock - rap, thì đó là kiểu mong muốn ngược sinh lí, trái với qui luật của tự nhiên. Đấy là ở xã hội âm nhạc phát triển, chứ còn ở ta, thử hỏi trong đại bộ phận gần 90 triệu người dân, tỉ lệ % bao nhiêu người biết chơi nổi một nhạc cụ, bao nhiêu người có được những kiến thức sơ đẳng về âm nhạc? Ứng xử của con người bao giờ cũng từ nhận thức mà ra. Một kẻ tham lam có tính tắt mắt trộm cắp, nếu họ chỉ học hết cấp 2 ở nhà làm ruộng thì họ chỉ ăn trộm quả cà bắp ngô, cùng lắm là trộm gà trộm vịt; nếu học đến trung cấp đi làm công nhân thì sẽ ăn cắp nguyên vật liệu của công trình; nếu học đến đại học làm công chức thì móc túi của người dân cái phong bì; nếu học đến tiến sĩ rồi làm cán bộ lãnh đạo, làm quan thì tham ô tham nhũng tiền tỉ, chục tỉ, trăm tỉ... Công chúng không được trang bị kiến thức về âm nhạc, nếu bắt họ nghe Đặng Thái Sơn biểu diễn nhạc Chopin, đảm bảo 3 tháng sau họ loạn thần là cái chắc, nhưng nếu cho họ nghe nhạc vàng Chế Linh hay Tuấn Vũ hát, thì họ sẽ mê mải nghe ngày nghe đêm. Vậy định hướng công chúng ở đây không phải là ép buộc, không phải là hướng người dân phải nghe cái này, không nghe cái kia, mà hãy tạo ra môi trường xã hội âm nhạc thực sự, khi ấy mới nói đến tự do lựa chọn những thể loại âm nhạc mà công chúng ưa thích.

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Các bài viết khác