Trang chủ | Thứ sáu, 24/03/2017 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 13759103
Trang chủ » Sách nhạc

NHẠC SĨ LƯ NHẤT VŨ - ANH NĂM TÔI

Thứ tư, 28/11/2012

Văn Lê

(Nhân đọc cuốn “Ngày ấy đã qua rồi” - tự truyện của nhạc sĩ Lư Nhất Vũ)

Sau giải phóng chừng nửa năm, nhiều nhà văn quân đội xin chuyển ngành về làm tại “Tuần báo Văn nghệ Giải phóng”, cơ quan ngôn luận của Hội Văn nghệ Giải phóng Miền Nam. Đó là các anh Nguyễn Duy, Trần Ninh Hồ, Trần Văn Tuấn, Trần Mạnh Hảo và tôi. Chúng tôi sống và làm việc với các anh chị đồng nghiệp tại chung cư 190, đường Công Lý, sau này đổi tên thành Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Cùng tá túc trong căn nhà này có nhạc sĩ Lư Nhất Vũ, chồng của chị Lê Giang, nhà thơ. Tôi gọi nhạc sĩ Lư Nhất Vũ là anh Năm. Gọi theo thứ của vợ. Anh Năm tôi là một nhạc sĩ tài hoa mà tôi yêu quý từ cái thời còn là học sinh, xách đèn chai, đốt đuốc đi hô khẩu hiệu “Đả đảo Mỹ – Diệm”. Bản nhạc đầu tiên của anh mà tôi biết là “Chiều trên bản Mèo”. Bản nhạc này trong vắt, vừa trữ tình vừa mang đậm sắc thái dân ca của dân tộc Mông:

Đàn bò hợp tác xã đã xuống núi rồi

Tiếng đàn môi còn vấn vương trên lưng trời

ƠTiếng sáo reo vang đoàn trai cưỡi ngựa phi lên đồi

Vài cô gái Mèo chờ người yêu bên dòng suối

 

Chiều về quanh bản Mèo mùi cơm nếp thơm

Giữa sườn núi đoàn lấy sa nhân đi về

Gió núi vi vu màn sương muối phủ trên biên thùy

Lòng em nhớ nhiều đội dân quân trên ngựa phi

 

Trên đèo cao rộn vang tiếng vó ngựa phi

Tung cát bụi mịt mù đường đi

Đây đoàn quân đi tuần biên giới

Tay nắm chặt khẩu súng sáng ngời

Lũ học trò nông thôn chúng tôi hát đi hát lại bản nhạc này không biết bao nhiêu lần. Càng hát càng thấy hay. Càng thấy hay càng hát. Chúng tôi hát giống như trâu bò nhai cỏ vậy. Vào năm 1967, tôi mang bài ca “Chiều trên bản Mèo” của anh Năm vào chiến trường Nam Bộ, âm ỉ hát trong những lúc buồn và cả sau những trận đánh thất bại.

Về sống trong một chung cư cao tầng, được gặp anh Năm, biết anh là người Bình Dương, lại ở xã Phú Cường, tôi cứ ngẩn người ra mà nhìn, mà ngắm, mà khâm phục. Phải là người tinh tế lắm, sâu sắc lắm, yêu vùng cao lắm, yêu dân tộc Mông lắm, anh mới tìm được cái “tinh”  trong cái “thần” của người Mông, bắt được cái “hồn”, cái “vía” của dân ca Mông mới viết được một bài hát như thế!

Bài ca “Chiều trên bản Mèo” đã ám ảnh tôi. Cho đến giờ, tôi vẫn có thể hát mà không làm sai của anh một nốt nhạc. Ở chiến trường Nam Bộ, qua Đài Phát thanh Giải Phóng và Đài Tiếng nói Việt Nam, tôi thường được nghe các ca khúc của anh Năm tôi. Đó là các bài “Hàng em mang tới chiến hào” và “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn”. Bài ca “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn” được bộ đội yêu quý đặc biệt. Họ yêu quý bài hát không chỉ ở tính chân thật, lạc quan và còn tìm thấy trong đó những giai điệu của Lý con sáo sang sông.

Vào mùa hè năm 1973, tại Lộc Tấn, tôi được xem nhạc cảnh “Tiếng cồng vượt thác” do anh Năm sáng tác và do đạo diễn tài ba Thái Ly dàn dựng, phần lời hát của chị Lê Giang. Buổi biểu diễn được tiến hành trong một nhà kho chứa mủ cao su, cải tạo lại làm hội trường của ban đón tiếp cán bộ chiến sĩ từ các nhà lao của địch chiến thắng trở về. Hội trường không có cửa sổ, mái lợp tôn nên nóng như hỏa lò. Trong khoảng không gian chỉ có thể chứa được khoảng hơn một trăm người nhưng có tới năm trăm người tới dự. Quạt giấy trở nên vô dụng. Càng quạt, hơi gió càng nóng. Nhưng tuyệt nhiên không một ai bỏ cuộc.

Cho đến giờ, tôi vẫn không sao quên được những ấn tượng của đêm biểu diễn đó. Khi tiếng trống, tiếng cồng vừa cất lên, hàng mấy trăm con người kẻ đứng, người ngồi như nêm cối im phăng phắc, hướng lên sàn diễn. Khó có thể nói hết được cảm xúc của người xem trong tiết mục này. Thỉnh thoảng, tiếng vỗ tay của khán giả lại ào lên như sóng khiến cho không khí trong căn nhà càng trở nên sôi động, hào hứng. “Tiếng cồng vượt thác” cũng là tiết mục cuối cùng của đêm diễn. Khi tấm màn được buông xuống, toàn thể các diễn viên trong đoàn bước ra sân khấu chào khán giả. Mọi người đồng loạt đứng lên vỗ tay nhiệt liệt. Khi bước ra khỏi hội trường tôi thấy người diễn, người xem ướt như chuột lột. Mồ hôi thấm đẫm quần áo của họ. Nếu đêm diễn không có sức hấp dẫn, khó có thể buộc người xem ngồi đến tận cùng như thế.

Tôi kể lại với anh Năm về kỷ niệm này. Anh chăm chú lắng nghe, rồi bảo:

- Không khí văn hóa thời ấy thật là tuyệt. Người ta trân trọng nhau lắm!

Cuối Năm 1977, tôi trở lại phục vụ trong quân đội. Từ chiến trường biên giới trở về, Trần Văn Tuấn tặng cháu Lê Anh Trung – con của anh chị Năm – cái ba lô con cóc. Tôi đem chiếc mũ sắt tặng anh chị để giã cua(!). Còn anh chị Năm tặng lại tôi những cuốn sách dày cộm nghiên cứu về dân ca mà anh chị cùng với các đồng nghiệp sưu tầm được. Nhìn công trình đồ sộ của anh chị Năm một lần nữa, tôi ngẩn người ra mà thán phục. Hóa ra trong những năm qua, anh chị Năm tôi âm thầm, miệt mài làm việc. Anh chị cùng các đồng nghiệp đã cố công tìm lại, ghi lại những giá trị văn hóa của cha ông ở Nam Bộ để nó không bị mất đi. Mãi tới hàng chục năm sau, đứng trước nguy cơ văn hóa dân tộc bị mai một, Bộ Văn hóa mới có chủ trương sưu tầm, lưu trữ các vốn cổ dân tộc, được gọi một cách chung chung là “Văn hóa phi vật thể”. Chẳng nói nhưng ai cũng biết là anh chị Năm tôi, cùng các đồng nghiệp chí cốt và được sự tài trợ của nhiều địa phương đã nhìn ra nguy cơ ấy và đã đi trước thời cuộc hàng chục năm trời. Từ các công trình sưu tầm, nghiên cứu của anh chị, tôi mới biết được rằng chỉ riêng ở Nam Bộ đã có hàng trăm điệu lý, hàng trăm điệu hò, hàng chục điệu ru con và hàng chục bài nói thơ, nói vè. Cũng từ các công trình nghiên cứu của anh chị, tôi gợi ý cho các bạn đồng nghiệp ở Đài Truyền hình Bình Dương làm một bộ phim về “Những trò chơi đã mất” đặng mong làm sống lại ký ức tuổi thơ của một thời.

Trong những lần trò chuyện, anh chị Năm thường hát cho tôi nghe nhiều bài ca mà anh chị cùng sáng tác. Đó là các ca khúc: Khúc hát người đi khai hoang, Bên tượng đài Bác Hồ, Lời ru sau cơn giông, Hãy yên lòng mẹ ơi, Bài ca Đất Phương NamKiên Giang mình đẹp lắm.

Chiều xuống đứng bên cầu nghe sóng biển

Nắng thu vàng chiếu rạng bến bờ

Kiên Giang mình đẹp làm sao

Bóng mây sánh đôi bóng núi

Con chim nhạn hát điệu tình quê

Một biển trời

Như có mẹ

Cất tiếng ru

Trăng nhú lên trên bến cảng quê hương

Trăng cũng đẹp

Đất cũng đẹp

Sao đâu đâu cũng đẹp!...

Ngơ ngẩn, lãng đãng, duyên dáng, là một nét nổi bật trong bài hát “Kiên Giang mình đẹp lắm” của anh chị Năm tôi. Bài hát mang âm hưởng điệu Lý chèo đưa cá Ông của cư dân vùng sông nước. Bài hát có sức cám dỗ như ma quỷ. Tôi đã thuộc bài hát này. Trên đường đi làm, đôi khi hứng lên bất tử, tôi ư ử thích thú hát một mình dù biết có nhiều người đang nhìn theo.

Trong một lần trò chuyện, tôi hỏi anh Năm:

- Vì sao anh không sáng tác nhạc trẻ?

Anh Năm cười rồi nhắc lại câu ngạn ngữ của đồng bào Khmer:

- “Đừng thấy trời nổi cơn giông mà đổ nước trong chum đi!”

Tôi rất thích câu ngạn ngữ này. Nó nhắc nhở người ta về cách ứng xử trước thời cuộc. Nó cảnh giác người ta không được chối bỏ những gì thuộc về truyền thống và cần phải gìn giữ, nâng cao các giá trị văn hóa giống nòi:

- “Phải điềm tĩnh, nghiền ngẫm trước các trào lưu”.

Sau một thoáng ngẫm nghĩ, anh nói tiếp:

- Mình cũng sáng tác nhạc trẻ đấy chứ. Nhưng trẻ theo cách của mình. Mình là người Việt nên viết theo phong cách của âm nhạc Việt.

Phong cách âm nhạc của dân tộc Việt theo tôi hiểu, thì chính là chất dân ca. Cái chất này đã được thử thách, được các thế hệ tiền phong tích cóp, lưu truyền cả hàng ngàn năm rồi. Những gì thô thiển đã bị thời gian xóa đi, cái còn lại chính là cái đã được tinh lọc. Các thế hệ tiền phong đã nuôi dưỡng  tâm hồn cho con cháu mình bằng chính những làn điệu đã được tinh lọc đó. Hầu hết các nhạc sĩ tài ba trên khắp đất nước ta đều sử dụng và bồi đắp cho nguồn tài nguyên này. Những Văn điệu, Xá điệu, Lý điệu… đều được các nhạc sĩ sử dụng một cách hết sức tài tình, sống động. Có thể vì vậy mà trong hầu hết các tác phẩm của anh Năm tôi đều mang âm hưởng dân ca từ vùng cao tới đồng bằng, từ Bắc vào Nam, từ núi rừng tới sông biển. Dường như âm hưởng dân ca là cái chất chủ đạo trong âm nhạc của anh, nuôi lớn tâm hồn anh và tạo nên tố chất riêng biệt trong âm nhạc của anh.

Trong cuộc sống hàng ngày, anh Năm tôi luôn nhẹ nhàng, rỉ rả, sâu sắc. Tôi chưa hề thấy anh lớn tiếng với ai. Và, tôi cũng chưa thấy ai to tiếng với anh bao giờ. Anh cặm cụi làm việc. Anh giống như một bông sen trong đồng. Lặng lẽ tỏa hương bằng chính mùi thơm của nó.

Quan niệm về cuộc sống, anh Năm thường nói với tôi: “Văn là hồn vía của một dân tộc. Người Việt nào để mất đi cái Văn của dân tộc mình, tự thân sẽ không còn là người Việt nữa.”

Anh Năm tôi nói rất đúng! Tôi cũng có những cảm nhận giống anh. Nếu các nhà làm văn hóa nói hết được cái hay, cái sâu sắc, tinh tế của dân tộc mình, anh ta sẽ bắt gặp cái hay, cái tinh túy của nhân loại.

Thành phố Hồ Chí Minh, đầu năm 1012

Nhà văn Văn Lê

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Các bài viết khác