Trang chủ | Thứ tư, 22/11/2017 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 14138846
Trang chủ » Luận bàn

SÁNG TẠO ÂM NHẠC TRONG ĐỀ TÀI LỊCH SỬ: NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VÀ LÍ LUẬN

Thứ năm, 15/11/2012

Nguyễn Thị Minh Châu

I.Khái niệm “lịch sử” trong sáng tác âm nhạc

Thế nào là tác phẩm thuộc đề tài lịch sử?

Với văn học, mĩ thuật, sân khấu, điện ảnh thì câu hỏi trên có vẻ thừa, vì dù có hư cấu đến đâu cũng vẫn dễ dàng nhận ra câu chuyện lịch sử trên trang sách, tranh tượng, sàn diễn, màn ảnh.

Còn với âm nhạc? Nền nhạc mới của ta vẫn luôn được ví như cuốn biên niên sử bằng âm thanh, vậy thì không nhất thiết phải dựa vào tình tiết quá khứ cách nay vài thế kỉ mới được xếp loại đề tài lịch sử, mà khái niệm “lịch sử” được hiểu theo nghĩa rộng hơn về thời gian cũng như tính khái quát.

Tính thời gian

Chủ đề lịch sử “thuần túy” (lấy mốc thế kỉ XIX trở về trước) xuất hiện rất sớm trong ca khúc. Mượn tích xưa nói chuyện nay là cách mà các nhạc sĩ tiền bối tránh kiểm duyệt của nhà cầm quyền để bày tỏ niềm tự hào dân tộc và ý thức nối tiếp truyền thống chống ngoại xâm. Có những truyền thuyết, sự kiện, địa danh, tên tuổi lịch sử đã đi vào lời ca ngay từ thời kì đầu tân nhạc (thập niên 30-40), như: hai bà Trưng (Hát giang trường hận- Lưu Hữu Phướcsau đổi tên hành Hồn tử sĩ, Ngày xưa - Tô Vũ, Trưng vương - Đỗ Nhuận), Đinh Tiên Hoàng (Bóng cờ lau - Hoàng Quý), Ngô Quyền (Trên sông Bạch ĐằngChiều buồn trên Bạch Đằng giang -Hoàng Quý, Bạch Đằng giang - Lưu Hữu Phước), Lí Thường Kiệt (Ải Chi Lăng - Lưu Hữu Phước), Trần Thánh Tông (Hội nghị Diên Hồng - Lưu Hữu Phước), Trần Hừng Đạo (Dưới bóng thông xanh Nhắn chim - Tô Vũ), Lê Lợi (Non nước Lam Sơn - Hoàng Quý, Đoàn Lam Sơn -Lưu Hữu Phước), Nguyễn Trãi (Lời cha giàĐường lên Ải Bắc - Đỗ Nhuận), Quang Trung (Gò Đống Đa - Văn Cao)…

Một chủ đề sớm nổi lên vậy mà lại mau chìm xuống, gần như mất hút trong những năm 50-60 và nửa đầu thập niên 70. Trong hai cuộc kháng chiến, tính thời sự được đưa lên hàng đầu nên chủ đề về quá khứ cổ xưa gần như vắng bóng, nhất là ở thể loại ca khúc vốn được coi là phương tiện đáp ứng với thời cuộc nhanh nhạy nhất và luôn giữ vai trò mũi nhọn xung kích trên mặt trận văn hóa. Chỉ trong khí nhạc là còn thấp thoáng đôi chút bóng dáng cổ tích, truyền thuyết, như kịch múa Tấm Cám - Nguyễn Văn Thương và Văn Chi, hòa tấu Ông Gióng - Nguyễn Xuân Khoát, giao hưởng Phù Đổng - Nguyễn Thiên Đạo…

Sau chiến tranh, chủ đề lịch sử thuần túy xuất hiện trở lại nhiều hơn, chủ yếu tập trung vào các đợt kỉ niệm lớn, như 300 năm Sài Gòn (1998), 990 năm Thăng Long - Hà Nội (2000) và 1000 Thăng Long - Hà Nội (2010). Song tác phẩm âm nhạc dựa trên tích sử vẫn quá khiêm tốn không chỉ về số lượng, mà còn cả về hiệu ứng xã hội. Danh sách tác phẩm đã được trình diễn, tức là đã có đời sống xã hội chẳng nhiều nhặn gì, dù bên cạnh tác phẩm mượn cốt truyện lịch sử hoặc truyền thuyết còn tính thêm cả những hình tượng lấy từ chuyện cổ tích và tác phẩm văn học. Dưới đây một số ca khúc và tác phẩm khí nhạc độc lập (trong đó có kịch múa, chứ chưa kể đến nhạc nền cho kịch nói và điện ảnh):

Ca khúc: Từ Hoa Lư đến Thăng Long Hà Nội - Đoàn Bổng, thơ: Nguyễn Quang Long, Truyền thuyết hồ Gươm - Hoàng Phúc Thắng, Hoài niệm Văn Miếu - Duy Quang, Trăng chiều phủ Tây Hồ - Thế Song, thơ: Ngô Ngọc Liễn…

Khí nhạc và thể loại tổng hợp thanh - khí nhạc: giao hưởng thơ Thánh Gióng - Doãn Nho, Bức tranh Thánh Gióng - Đỗ Dũng, nhạc kịch Nguyễn Trãi - Đỗ Nhuận, hòa tấu dàn nhạc dân tộc Hội nghị Diên Hồng - Hoàng Đạm, giao hưởng Tấm Cám - Đàm Linh, nhạc kịch Mị Châu Trọng Thủy - Nguyễn Thiên Đạo, Thăng Long - Đàm Linh, thanh xướng kịch Trảy hội Đền Hùng - Doãn Nho, tổ khúc giao hưởng Ngọc trai đỏ - Ca Lê Thuần, giao hưởng Chuyện nàng Kiều ­- Nguyễn Văn Nam, khúc tùy hứng Thăng Long 900 - Thế Bảo, Symphonic fantasy Mở đất  - Đỗ Hồng Quân, Khai giác - Nguyễn Thiên Đạo, hợp x­ướng Đức Đại v­ương Trần H­ưng Đạo - Đỗ Dũng, thanh xướng kịch Định mệnh bất chợt - Nguyễn Thiên Đạo…

Chào mừng Thủ đô tròn 1000 tuổi là dịp kéo dài thêm danh sách chủ đề lịch sử cổ xưa trong các tác phẩm thể loại lớn, như: thơ giao hưởng Chiếu dời đô - Đinh Quang Hợp, liên khúc giao hưởng Ngàn năm nhớ về thuở ấy - Đinh Quang Hợp, thanh xướng kịch Hoa Lư - Thăng Long - Bài ca dời đô  - Doãn Nho, giao hưởng Hồn đất Việt - Nguyễn Thiên Đạo, suite symphonic Dáng rồng lên - Đỗ Hồng Quân, đại hợp xướng Ngàn năm Thăng Long - Đỗ Dũng, thơ: Ngô Minh Thơm, dạ khúc Đêm Hồ Gươm - Ngô Quốc Tính, tổ khúc Thăng Long - Hà Nội, những trang vàng - Huy Thục, thơ: Tạ Hữu Yên, concerto cho violon và dàn nhạc Đây sông Hồng sông Cái  - Vĩnh Cát…

Trong số tác phẩm vừa kể trên, có bao nhiêu bài đã trở nên quen thuộc với công chúng? Tỉ lệ đó phần nào cho biết mức độ hiệu ứng xã hội của chủ đề lịch sử trong âm nhạc.

Song đề tài lịch sử không đóng khung trong giới hạn thời gian nói trên.Trước khi được coi như cuốn biên niên sử, nền nhạc mới còn được gọi là cuốn nhật kí bằng âm thanh của công cuộc bảo vệ và dựng xây đất nước thế kỉ XX. Tính thời sự, dấu ấn một thời nước sôi lửa bỏng gắn với sự kiện đáng nhớ hoặc nhân vật đáng ngưỡng mộ, sau nhiều năm trở nên có ý nghĩa lịch sử. Thời sự hôm qua trở thành lịch sử hôm nay. Như vậy giới hạn thời giạn đề tài lịch sử còn bao gồm cả sử đương đại. Từ năm 1930 (cột mốc Đảng Cộng sản ra đời đồng thời với sự ra đời của những bài hát đầu tiên của tân nhạc) có thể nói tác phẩm âm nhạc luôn song hành cùng lịch sử.

Đó là những bài hát ra đời trong thời khắc lịch sử, không gian lịch sử, như Diệt phát xít - Nguyễn Đình Thi, Tiến quân ca - Văn Cao, Mười chín tháng Tám - Xuân Oanh, Người Hà Nội - Nguyễn Đình Thi, Ba Đình nắng - Bùi Công kì và Vũ Hoàng Địch, chùm hành khúc Hành quân xa, Trên đồi Him Lam Giải phóng Điện Biên của Đỗ Nhuận, Giải phóng miền Nam ­- Lưu Hữu Phước, chùm ca khúc Hà Nội những đêm không ngủ, Hà Nội - Điện Biên Phủ Như có Bác trong ngày đại thắng của Phạm Tuyên.

Đó là những ca khúc ngợi ca Tổ quốc gắn với truyền thống lịch sử, gắn với tên đất nước, tên núi đồi, sông hồ, vùng miền (địa phương ca, tỉnh ca, thành phố ca…) và đã trở thành bài ca đi cùng năm tháng: Sông Lô - Văn Cao, Du kích sông Thao Đỗ Nhuận, Việt Nam quê hương tôi - Đỗ Nhuận, Ta tự hào đi lên ôi Việt Nam - Chu Minh, Quảng Bình quê ta ơi - Hoàng Vân, Hà Tây quê lụa - Nhật Lai, Thành phố hoa phường đỏ - Lương Vĩnh, Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh - Xuân Hồng, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh - Nguyễn Văn Tý, Nhớ về Hà Nội - Hoàng Hiệp…

Đó là những khúc ca tôn vinh anh hùng, liệt sĩ: Kim Đồng - Phong Nhã, Biết ơn chị Võ Thị Sáu - Nguyễn Đức Toàn, Lời anh vọng mãi ngàn năm (về Nguyễn Văn Trỗi) - Vũ Thanh, Bế Văn Đàn sống mãi Cùng anh tiến quân trên đường dài (về Nguyễn Viết Xuân) - Huy Du…

Về nhân vật lịch sử, tượng đài lớn nhất trong âm nhạc là Hồ Chí Minh (Lãnh tụ ca - Lưu Hữu Phước, Tiếng hát giữa rừng Pác Pó -Nguyễn Tài Tuệ, Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người - Trần Kiết Tường, Người là niềm tin tất thắng - Chu Minh, Viếng lăng Bác - Hoàng Hiệp…). Về địa danh lịch sử, tượng đài hoành tráng nhất là Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội với hàng trăm ca khúc và tác phẩm khí nhạc.

Cũng cần nói thêm về ý nghĩa lịch sử của bài hát ra đời vào thời điểm lịch sử: một trong những đặc điểm sáng tác khí nhạc trong đề tài lịch sử là sử dụng giai điệu một số ca khúc quen thuộc để làm sống lại không gian lịch sử mà giai điệu đó gắn bó.

Khi đã mở rộng khái niệm lịch sử về thời gian, thì cần phải xếp vào đề tài lịch sử rất nhiều tác phẩm khí nhạc. Đây là nơi cho thấy rất rõ một đặc thù của nghệ thuật âm nhạc: tính khái quát.

vtrolsuTính khái quát

Ở đây câu chuyện lịch sử được diễn giải không theo chi tiết cụ thể, mà qua hình tượng khái quát toát ra từ ngôn ngữ âm nhạc thuần túy, không dựa vào sự hỗ trợ của ngôn từ. Đôi khi chỉ được gợi ý bằng tên gọi tác phẩm và tiêu đề các chương nhạc, người nghe tưởng tượng tình tiết nội dung qua ngôn ngữ âm nhạc là chính, còn giọng ca nếu có cũng đóng vai trò như một nhạc cụ hơn là người kể chuyện. Phần lớn tác phẩm trong gia tài nhạc khí nhạc Việt Nam có liên quan một cách khái quát tới sự kiện, địa danh và nhân vật lịch sử như thế.

Riêng tên gọi “Việt Nam, Tổ quốc, đất nước, quê hương...” đã trở thành tiêu đề cho hàng loạt tác phẩm, trong đó có các giao hưởng nhiều chương: Quê hương - Hoàng Việt, Tổ quốc - Nguyễn Đức Toàn, Mẹ Việt Nam Quê hương tôi - đất nước tôi - Nguyễn Văn Nam, Tổ quốc tôi - Lân Tuất; các giao hưởng một chương: Thành đồng Tổ quốc - Hoàng Vân, Thắng lợi và tình yêu Tổ quốc - Nguyễn Đình Tấn, Dáng đứng Việt Nam - Ca Lê Thuần, Việt Nam đất nước của niềm tin và hy vọng - Minh Khang, Rhapsodie Việt Nam - Đỗ Hồng Quân; concerto cho piano và dàn nhạc Tổ quốc tôi - Nguyễn Đình Lượng, concerto cho đàn tranh và dàn nhạc giao hưởng Quê tôi giải phóng - Quang Hải...

  Đi vào nhạc khí nhạc là các sự kiện của hai cuộc kháng chiến, từ chống Pháp: Ngọn lửa Nghệ Tĩnh - Lương Ngọc Trác, Huy thục, Nguyễn Thành, Lửa cách mạng - Trần Ngọc Xương, Tháng Tám lịch sử - Doãn Nho, ­Ba Đình mùa thu ấy - Ngô Quốc Tính; chống Mỹ: Đồng khởi - Nguyễn Văn Thương, Lửa thử vàng - Nguyễn Đình Tấn, Miền Nam tuyến đầu - Chu Minh, Cuộc đối đầu lịch sử - Vĩnh Cát, Chiến thắng - Doãn Nho, Bão lửa Thăng Long - Lê Khiêm; cho đến ngày đất nước thống nhất: Trăm sông đổ về biển Đông - Trần Ngọc Xương, Non sông một dải - Nguyễn Xinh. Trong thời bình dư âm chiến tranh vẫn vọng về trong kí ức với Khúc tưởng niệm - Doãn Nho, Trở về Điện Biên - Trần Trọng Hùng, Một thời để nhớ - Phan Ngọc, Huyền tích Trường Sơn - Ngô Quốc Tính, Nhớ Trường Sơn - Huy Loan, Tiếng hát sông Hương - Hoàng Dương…

Sống mãi trong tác phẩm khí nhạc là những người anh hùng vô danh: Nữ anh hùng miền Nam - Nguyễn Thị Nhung, Tượng đài vô danh - Đức Trịnh) và những nhân vật cụ thể - lãnh tụ Hồ Chí Minh trong Tưởng nhớ -Vân Đông, Người về đem tới niềm vui - Trọng Bằng, Kí ức Hồ Chí Minh - Quang Hải, các liệt sĩ như Nguyễn Văn Trỗi trong Tuổi trẻ anh hùng - Vĩnh Cát, Tuổi trẻ - Chu Minh.

Nếu như hiệu ứng xã hội của chủ đề lịch sử cổ xưa không lớn lắm, thì những tác phẩm thuộc sử đương đại lại đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống âm nhạc, nhờ thế mà đề tài lịch sử trong âm nhạc trở nên phong phú hơn cả về số lượng, chất lượng, đồng thời cũng gợi ra không ít điều đáng suy ngẫm.

II. Suy ngẫm từ hiệu quả thực tiễn

Một khi âm nhạc được coi như phương tiện tuyên truyền, thì chủ đề nội dung tác phẩm hẳn nhiên phụ thuộc vào mối quan tâm chính trị của từng giai đoạn. Và đến lúc sáng tác mang tính thời sự cũng được xếp vào phạm trù lịch sử, thì có thể nói chỉ trừ thời đầu tân nhạc mang tính tự phát, còn sau đó đề tài lịch sử luôn là nơi cho thấy rất rõ tính định hướng. Riêng sự vượt trội số lượng tác phẩm gắn với lịch sử đương đại cũng là một minh chứng cho việc sáng tác có chỉ đạo.

Những sáng tác kịp thời khích lệ tinh thần công chúng đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của nó. Giá trị nội dung ở thời điểm ra đời, ở hiệu quả “tại chỗ” được cộng hưởng với rung cảm của người sáng tạo có thể đưa tác phẩm vươn tới giá trị nghệ thuật. Tác phẩm không trụ được với thời gian nếu ở đó tính cổ động kịp thời tỉ lệ nghịch với giá trị bền lâu, nếu những địa phương ca, anh hùng liệt sĩ ca chỉ đơn thuần nhét địa danh và tên người vào ca từ hoặc tiêu đề mà không thực sự làm rung động lòng người.

Thực tế cho thấy văn nghệ tuyên truyền không khéo thì chẳng thể thuyết phục công chúng, thậm chí còn gây tác dụng ngược và làm mất thiêng cho việc sáng tạo nghệ thuật. Đành rằng nghệ thuật được quyền hư cấu, nhưng vẫn thấy gì đó thiếu công bằng với nghệ sĩ - người đã thành tâm dồn công sức để sáng tạo, để ngợi ca người thật việc thật trong lịch sử đương đại, rồi bỗng nhiên một ngày nào đó công chúng vỡ lẽ ra là anh hùng liệt sĩ ấy chưa từng hiện hữu trên đời này và hành động quả cảm ấy hoàn toàn không có thật. Đấy là trường hợp Cây đuốc sống của Nguyễn Đình Tấn, bản giao hưởng được tác giả trân trọng ghi lời tựa: “Ngọn đuốc Lê Văn Tám được đốt lên từ chính thân mình, đã soi sáng cho toàn thể thế hệ thiếu nhi Việt Nam mãi mãi về sau”. Hiệu quả giáo dục mất đi trong sự nhập nhằng giữa bài học lịch sử với nhân vật hư cấu.

Đề tài lịch sử phù hợp với quy mô hoành tráng, với các thể loại thanh nhạc lớn như oratoria, cantate, opéra và các thể loại thính phòng - giao hưởng. Hình thức lớn đương nhiên kéo theo kinh phí lớn, nếu không có tài trợ hoặc sự đỡ đầu của cơ quan nhà nước thì đa số các nhà soạn nhạc ở ta không có khả năng tự đảm đương công đoạn dàn dựng. Vì thế đề tài lịch sử thường là đơn đặt hàng vào dịp lễ lớn.

Vấn đề ở đây là đặt hàng thế nào, nhắm mục tiêu giá trị lâu bền hoặc chỉ cốt nhiều tác phẩm “thời vụ”, rộ lên trong mùa lễ hội rồi chết luôn, hoặc xếp kho chờ đến đợt kỉ niệm sau may ra được tân trang lại. Đầu tư không đúng chỗ và bất hợp lí có thể khiến công chúng bất bình, rằng đổ tiền thuế của dân vào những tác phẩm lễ lạt, tốn kém cho thứ “hàng xài một lần rồi bỏ” thì thà lấy tiền ấy xây trường học bệnh viện còn hơn.

Tác phẩm đồ sộ, đặc biệt là nhạc không lời rất khó đến với công chúng vốn ít tiếp xúc với giao hưởng thính phòng. Viết khó, mất nhiều công sức lại không phổ cập nên nếu không được đặt hàng, nhạc sĩ chọn đề tài lịch sử đương đại nhiều hơn là tích chuyện cổ xưa. Vì thế chủ đề lịch sử cổ xưa trong âm nhạc không rôm rả so với lĩnh vực văn học và điện ảnh, nơi có những sản phẩm bị coi là “thảm họa lịch sử”, cũng như so với sân khấu, nơi “lạm phát lịch sử” đến mức Liên hoan kịch nói toàn quốc 2012 phải hạn chế bằng một lệnh “cấm”(!).

Giới nhạc chưa phải đối đầu với các vụ tranh cãi về chuẩn mực sáng tạo và hư cấu như ở các ngành nghệ thuật nói trên. Có lẽ vì ca khúc là thể loại nhỏ, không thể chứa đựng hết tình tiết nội dung câu chuyện, mà chỉ chuyển tải ở mức “điểm mặt gọi tên” và không “cày sâu” thì ít mắc lỗi. Còn nhạc không lời quá trừu tượng nên cũng khó bắt bẻ. Chỉ dễ phạm lỗi khi đi sâu vào chi tiết cụ thể của cốt truyện và hành động cụ thể của nhât vật như trong opéra, nhưng với thể loại lớn này lại không mấy ai có cơ hội để thể nghiệm. Vì thế học hỏi kinh nghiệm khai thác đề tài lịch sử từ các lĩnh vực văn học, sân khấu, điện ảnh là vô cùng hữu ích, để sau này những tác phẩm âm nhạc thuộc thể loại lớn đỡ vấp phải những hạt sạn làm sai lệch lịch sử hoặc cản trở sáng tạo của nghệ sĩ.

Không thể bỏ qua vai trò đặc biệt của nhạc cổ truyền trong đề tài lịch sử. Khai thác dân ca nhạc cổ là điều các nhạc sĩ Việt Nam luôn vận dụng, đặc biệt trong đề tài ngợi ca tình yêu quê hương, tình yêu dành cho vùng miền, địa phương cụ thể. Không gì gợi nhớ quá khứ hiệu quả bằng chất liệu âm nhạc. Chất liệu cổ truyền mang lại nhiều cái lợi cho nhạc mới: thứ nhất, đưa chất liệu cổ đến với công chúng, đặc biệt giới trẻ, cũng là cách góp phần gìn giữ vốn quý của tổ tiên; thứ hai, chất liệu cổ dễ đem lại hiệu ứng bản sắc dân tộc, nhờ thế tác phẩm dễ có được tiếng nói riêng trên diễn đàn quốc tế.

Còn có những lợi thế khác mà đề tài lịch sử có thể mang lại. Chẳng hạn như tính phổ cập: dựa trên cốt truyện có thật, nhân vật có thật hoặc truyền thuyết dân gian ai ai cũng biết, nhạc không lời hoặc tác phẩm thanh nhạc lớn hơn ca khúc thuộc đề tài lịch sử có thể trở nên dễ hiểu, dễ hấp dẫn hơn đối với công chúng.

Ngoài ra, tính giáo dục trong đề tài lịch sử cũng rất lớn. Văn hóa đọc xuống cấp, học sinh dốt sử chưa từng thấy, trẻ con thuộc sử Tàu hơn sử ta vì truyền hình liên tiếp chiếu phim dã sử, các tích sử tân trang của Trung Hoa. Đề tài lịch sử trong văn học nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng nếu được đầu tư tiền tài xứng đáng có thể góp phần không nhỏ vào vốn hiểu biết lịch sử, tăng thêm niềm tự hào về truyền thống dân tộc ở lớp trẻ.

Đề cao ý thức công dân trong nội dung, đề tài lịch sử cũng luôn đòi hỏi trách nhiệm công dân ở người sáng tác. Sự kiện nóng hổi hôm nay sẽ là lịch sử mai sau, nhạc sĩ ở mức độ nào đó cũng là người ghi sử, đương nhiên không sao chép thực tế mà sáng tạo qua ngôn ngữ nghệ thuật mang tính tượng trưng và khái quát, vậy nên người ghi sử bằng âm thanh với trách nhiệm công dân rất đáng được hưởng quyền tự do sáng tạo và quyền được hỗ trợ sáng tạo.

30-10-2012

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác