Trang chủ | Thứ ba, 12/12/2017 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 14175191
Trang chủ » Thanh nhạc

CÔNG TRÌNH PHỤC DỰNG VÀ CÔNG DIỄN VỞ NHẠC KỊCH "CÔ SAO" CỦA NHẠC SĨ ĐỖ NHUẬN

Thứ hai, 12/11/2012

HỘI NHẠC SĨ VN – DÀN NHẠC GIAO HƯỞNG VN – NHÀ HÁT NHẠC VŨ KỊCH VN

Nhạc sĩ Đỗ Nhuận (1922 - 1991) – Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật (đợt I). Ông là Tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa I và II từ 1958 đến 1983, một trong những cánh chim đầu đàn của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam.

Đỗ Nhuận sinh ngày 10 tháng 12 năm 1922 tại làng Vạc (nay là thôn Hoạch Trạch), xã Thái Học, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Rời quê hương từ thuở niên thiếu, Đỗ Nhuận cùng gia đình sống nhiều năm tại thành phố cảng Hải Phòng, nơi đây ông đã tiếp xúc được với những kiến thức âm nhạc đầu tiên. Năm 14 tuổi, Đỗ Nhuận tham gia hướng đạo sinh, hát những ca khúc Pháp và châu Âu. Ông cũng tự học âm nhạc dân tộc và biết chơi sáo trúc, tiêu, đàn nguyệt, đàn tứ, đàn bầu. Sau đó, khi âm nhạc cải cách bước đầu nhen nhóm, Đỗ Nhuận cũng bắt đầu tiếp xúc với tân nhạc, học đàn guitar, banjo, kèn harmonica và ghi âm. Sau ông còn học thêm violon,baian với các nhạc công người Nga lưu vong ở Hà Nội.

Năm 1939, Đỗ Nhuận sáng tác ca khúc đầu tay vào tuổi 17, bản Trưng Vương, nhân ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng ở tỉnh Hải Dương. Trưng Vương được phổ biến rộng rãi và đã xuất bản ngay trong năm đó. Tiếp theo, từ cảm hứng lịch sử, ông soạn nhiều ca khúc như: Chim than, Lời cha già, Đường lên ải Bắc... là cơ sở soạn nên vở ca cảnh Nguyễn Trãi - Phi Khanh gồm 3 ca khúc Chim than, Lời cha già, Đường lên ải Bắc được ông viết trong hai năm 1940, 1941.

Thời gian đó, Đỗ Nhuận cũng bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1943, vì in và rải truyền đơn tuyên truyền cho cách mạng nên ông bị bắt giam vào nhà lao Hải Dương, rồi đưa lên Hỏa Lò và sau bị đày lên Sơn La. Thời gian trong tù, Đỗ Nhuận đã viết nhiều bài hát cách mạng như: Hận Sơn La, Du kích ca…

Đỗ Nhuận cũng là nhạc sĩ đầu tiên trong thế hệ của ông được đào tạo bài bản, ông được cử đi học tại Nhạc viện Tchaikovsky từ năm 1959 đến 1962. Ông là một trong những người đặt nền móng cho thể loại nhạc kịch Việt Nam (Opera). Năm 1965, Đỗ Nhuận cho ra đời vở nhạc kịch đầu tiên “Cô Sao”, rồi sau đó là “Người tạc tượng” (1974), “Nguyễn Trãi” (1982).

Trước đó, ông đã sáng tác các vở ca kịch (Operete) như: Cả nhà thi đua, Sóng cả không ngã tay chèo, Anh Pǎn về bản, Hòn đá. Và những năm tiếp theo (1970 – 1980) là các vở: Chú Tễu, Ai đẹp hơn ai, Trước giờ cưới, Quả dưa đỏ... Đỗ Nhuận còn có những tác phẩm khí nhạc như “Vũ khúc Tây Nguyên” cho violon và dàn nhạc... Nhưng tên tuổi ông vẫn gắn bó với những ca khúc nổi tiếng qua các thời kỳ từ 1943 với: Chiều tù, Côn Đảo, Hận Sơn La, Tiếng gọi tù nhân, Viếng mồ tử sĩ, Du kích ca, Đoàn lữ nhạc, Áo mùa đông, Nhớ chiến khu... đến Tiếng súng Nam Bộ (1946), Du kích Sông Thao, Bé yêu già Hồ (1948), và đặc biệt là chùm ca khúc: Hành quân xa, Trên đồi Him Lam, Chiến thắng Điện Biên (1954)…

Sau hòa bình 1954, Đỗ Nhuận tiếp tục sáng tác và có mặt trong lĩnh vực thanh nhạc và khí nhạc, nổi bật là những tác phẩm như: Việt Nam quê hương tôi, Trai anh hùng gái đảm đang, Vui mở đường, Đường bốn mùa xuân, và các tác phẩm khí nhạc như: Khúc biến tấu trên chủ đề dân ca cho flute và piano Mùa xuân trên rừng (1963), tứ tấu đàn dây Tây Nguyên (1964), ba biến tấu cho violon và piano (1964), tổ khúc giao hưởng Điện Biện (1965), giao hưởng thơ Đimit'rov (1981)... Ngoài ra, còn phải kể đến kịch múa rối Giấc mơ bé Rồng (1968), kịch múa Mở biển (1973) và nhạc nền trong các phim tài liệu và phim truyện: Chiến thắng Điện Biên (1954), Nguyễn Vǎn Trỗi (1965), Mở đường Trường Sơn (1972), Lǎng Bác Hồ (1975).

Các Giải thưởng:

- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (đợt I)

- Huân chương Độc lập hạng Nhì và nhiều Giải thưởng, Huân, Huy chương cao quí khác.

GIỚI THIỆU TÓM TẮT VỀ NHẠC KỊCH (OPERA) “CÔ SAO”

cosaoNhạc kịch (Opera) “Cô Sao” là vở nhạc kịch đầu tiên của nền âm nhạc Cách mạng Việt Nam thế kỷ XX. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận đã sáng tác vở Nhạc kịch này trong thời gian từ năm 1960 đến 1963 và lần đầu tiên công diễn tại Thủ đô Hà Nội nhân dịp niệm 20 năm Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1965).

Bắt nguồn cảm xúc từ câu thơ đầy tính triết lý sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Trên đời ngàn vạn điều cay đắng

Cay đắng chi bằng mất tự do”

Tác giả đã sáng tác vở Nhạc kịch “Cô Sao” với chủ đề cách mạng giải phóng con người.

Nội dung

Tây Bắc vào những năm trước Cách mạng tháng Tám 1945, con người nơi đây sống kiếp lầm than, cơ cực dưới ách cai trị của bọn thực dân, quan lang, phìa tạo... cùng bao hủ tục lạc hậu. Cô Sao (A Sao), người con gái Thái xinh đẹp như cây măng rừng, mồ côi cha mẹ, nhưng đã phải đối đầu với bao tai ương nghiệt ngã và bất công nơi rừng núi Sơn La âm u. Thân phận A Sao nằm trong mưu mô của mụ vợ ba tên Công sứ Pháp. Cô Sao bị vu cho là có ma Cà rồng trong người. Theo hủ tục của người xưa cô phải sống cô độc, xa lánh dân bản, một mình lẻ loi trong khu rừng gần nhà tù Sơn La. Tại đây, A Sao được anh Hà – một người tù chính trị và chị Vân – cán bộ hoạt động bí mậtgiác ngộ về lòng yêu nước, chí căm thù giặc. A Sao dần dần thoát khỏi tâm lý sợ hãi, hoang mang.

Thế thời thay đổi, Phát xít Nhật chiếm đóng Đông Dương, lăm le hất cẳng thực dân Pháp. Mụ Ba bỏ tên Công sứ Pháp, câu kết với Tri Châu Đèo Văn Hung bầy trò hóa kiếp ma cho A Sao, rồi đốt nhà cô, bắt cô vào đội xòe mua vui cho bọn quan lang. Bị tên Đen (tay sai thân Nhật) tán tỉnh, mua chuộc, dọa nạt, A Sao đã cương quyết kháng cự và tìm đường trốn thoát. Được cụ Sình (cơ sở cách mạng - người dân tộc Mông) chỉ đường lên núi Phượng Hoàng đến với Cách mạng.

Một ngày xuân đẹp trời năm 1946, trong đoàn quân giải phóng Sơn La, A Sao và anh Hà vui mừng gặp lại nhau, cùng hát chung bài ca “Bầu trời đã hết sương mờ, có tiếng ca hòa tiếng thơ núi ngàn. Bên nhau niềm tin chiến thắng, phá tan kiếp gông xiềng ngục tù...”. Tây Bắc đã được hồi sinh như một miền thiên nhiên huyền thoại trong nhịp xòe và giai điệu dân ca của các dân tộc anh em: Kinh, Thái, Tày, Mông... Trong ngày vui đồng bào Tây Bắc hướng về miền Nam ruột thịt, Sao tiễn anh Hà cùng đoàn quân đi giải phóng miền Nam giành độc lập tự do cho Đất nước.

Lịch sử vở diễn

“Cô Sao” được công diễn lần đầu tiên năm 1965 do Nhà hát Giao hưởng Nhạc vũ kịch Việt Nam dàn dựng nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tại Nhà hát Lớn, Hà Nội.

Năm 1976, sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, vở nhạc kịch “Cô Sao” được dàn dựng lại với một phiên bản mới ngắn gọn hơn. Cả hai lần công diễn trên đều do Nhà hát Giao hưởng - Nhạc vũ kịch Việt Nam dàn dựng, với các đạo diễn, chỉ huy dàn nhạc, họa sĩ, biên đạo múa… tên tuổi như: đạo diễn Võ Bài, Văn Hà, chỉ huy dàn nhạc Trần Quý, Đỗ Dũng, An Ngọc, họa sĩ Bùi Huy Hiếu, Trần Mậu, biên đạo múa Nguyễn Việt, Đoàn Long cùng các ca sĩ nổi tiếng như: Ngọc Dậu, Kim Định, Thúy Hà, Hoàng Hoa (vai Sao), Quang Hưng, Quý Dương (vai Hà), Trần Hiếu, Hoàng Ban (vai cụ Sình), Viễn Lữ, Tâm Trừng (vai mụ Ba)...

Năm nay - 2012, tròn 90 năm ngày sinh của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, cũng là năm kỷ niệm 55 năm thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam (1957 – 2012). Nhạc sĩ Đỗ Nhuận nguyên là tổng thư ký đầu tiên của Hội trong suốt 2 nhiệm kỳ I và II (1957 – 1983). Được sự nhất trí của lãnh đạo 3 đơn vị nghệ thuật là: Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam, Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, trong quý 3 và quý 4 năm 2012, công trình nghệ thuật “Cô Sao” sẽ được khởi công dàn dựng mới, với sự khôi phục tổng phổ, biên tập, bổ sung phối khí của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân.

Ê-KÍP SÁNG TẠO

Chỉ huy chính Ngài Tetsuji Honna -

Giám đốc âm nhạc và chỉ huy chính của Dàn nhạc Giao

hưởng Việt Nam

Đạo diễn sân khấu Huyền Nga – Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam.
Đạo diễn âm nhạc NS Đỗ Hồng Quân
Biên đạo múa NSND Anh Phương
Chỉ huy hợp xướng NSƯT Mạnh Chung
Pianists Huy Phương – Tâm Ngọc
Họa sĩ Nguyễn Sơn - NSƯT Hoàng Hà Tùng
Chỉ huy phục trang Hồng Vân – Ngọc Thúy
Đạo cụ Mạnh Hùng – Đắc Xuân
Âm thanh, ánh sáng Tuấn Anh – Thanh Sơn – Nguyễn Luận
Chỉ huy đêm diễn Mạnh Chung
Chuyển ngữ tiếng Anh Trịnh Lữ
Chuyển ngữ tiếng Nhật Akaia Kato

Cùng tập thể nghệ sĩ, diễn viên Dàn nhạc Giao hưởng VN, Nhà hát Nhạc Vũ kịch VN

Hội đồng nghệ thuật
  1. NS Đỗ Hồng Quân - Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam
  2. NSND Nguyễn Anh Phương - Giám đốc Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam
  3. NSƯT Nguyễn Trí Dũng - Giám đốc Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam
  4. NSƯT Ngô Hoàng Quân - Phó Cục Trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Giám đốc sản xuất T.s. - NS Nguyễn Khánh Trình

CÁC NHÂN VẬT

Lò Thị Sao – 19 tuổi - dân tộc Thái

Hồng Hà - 26 tuổi – tù chính trị - dân tộc Kinh

Lò Văn Oon – anh họ của Sao – dân tộc Thái

Bác Cung - tù chính trị lâu năm – dân tộc Thổ

Cụ Sùng A Sình – 60 tuổi – lão du kích lâu năm – dân tộc Mông

Chị Vân - cán bộ giao thông bí mật – dân tộc Kinh

Chị Éng – 21 tuổi - nàng hầu của Tri Châu Đèo Văn Hung

Đèo Văn Hung – 55 tuổi - quan Tri Châu – dân tộc Thái

Mụ Ba – 37 tuổi - vợ ba Công sứ Pháp – dân tộc Kinh

Đen – 28 tuổi – em trai mụ Ba, mật thám Pháp, thân Nhật

Xái – 28 tuổi - lưu manh, tay chân của Đen và mụ Ba

Nô – 30 tuổi - phìa bản, tay chân của Đen và mụ Ba – dân tộc Thái

BẢNG PHÂN VAI

NHÂN VẬT CA SĨ GIỌNG
Lò Thị Sao

Thăng Long (kip 1)

Tố Loan (kip 2)

Soprano
Hồng Hà Mạnh Dũng Bariton
Lò Văn Oon Minh Tới Tenor
Bác Cung Kiều Thẩm Bass
Cụ Sình Mạnh Đức Bass
Chị Vân Hương Diệp Mezzo - Soprano
Chị Éng Thu Quỳnh

Soprano II

Đèo Văn Hung Huy Đức Bass
Mụ Ba Vành Khuyên

Soprano

Đen NSƯT Mạnh Chung Tenor
Xái Thanh Sơn Tenor II
Nộ Khánh Cường Bariton

Quần chúng: Hợp xướng 4 bè (Soprano, Alto, Ternor, Bariton-bass) và đoàn múa Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam

Nghe nghệ sĩ Lê Dung hát Aria Cô Sao:

Ý kiến bạn đọc

Nguyễn Nguyên Hải

Tôi đã chờ đón và vui mừng đã được xem Opera Cô Sao bản diễn tối 24/11/12.Tuy vậy sau khi xem xong tôi không vui lắm , xem lại vài lần nữa ( lướt các trích đoạn , các Aria ) , vẫn có cảm giác chưa thoả mãn  Nhưng RẤT cảm ơn Nhà hát NVK,Dàn Giao hưởng , VTVvà ekip cộng tác đã phục dựng lại và phổ biến vở diễn được như vậy trong hoàn cảnh sinh hoạt âm nhạc như hiện nay .

Tôi đã may mằn được xem các bản diễn , các nghệ sỹ từ các đợt diễn 1965,1976 đến nay vẫn còn nhớ nhiều đoạn diễn , nhiều Aria , duo , vãn còn giữ cả kịch bản (Tổng phổ) và mấy bản thu cuả Lê Dung, Thuý Hà , Hồng Vy …nen cũng có chút điều kiện để so sánh.

Nói chung tôi thích bản Đạo diễn của Văn Hà và vẫn lưu ấn tượng với những giọng ca như : Thuý Hà , Ngọc Dậu , Tâm Trừng , Kim Định , Viễn Lữ , Quang Hưng vv còn bản diễn lần này tôi chỉ có cảm tình với Mạnh Dũng , Minh Tới . Tôi chưa thông cảm , chưa hiểu hết được ý đồ của Đạo diễn ở Cảnh 3 , “Cú” đóng màn, sử lý âm nhạc đầu cảnh 3 , đoạn nhịp ¾-“ Đào Sơn La đã ra hoa , Trông lên ngàn sao chiếu sáng , Ta hát mừng  khúc ca mùa xuân …”(Xin lỗi hình như ca từ như vậy , nếu tôi không nhầm, qua hơn 40 năm rồi ) , Tôi chưa thông cảm được trang trí cảnh 2 và nhiều bộ trang phục. Xin lỗi , mấy thiển ý vì nhiệt tình đã bộc bạch .

Chúc vở diễn thành công hơn nữa ! 

Dương Viết Hòa

   Biết tin này thật mừng lắm- Ước gì Hội NSVN cho quay thành phim phát rộng rãi trên sóng Phát thanh-Truyền hình,lên mạng, và phát hành Đĩa CD để chúng tôi cũng được xem,cả nước đều được xem...

    Tôi nghĩ rằng việc đó chắc không khó,và chắc Lãnh đạo Hội cũng đã lên kế hoạch cả rồi...Tôi đang rất mong Ngày ấy mau đến !

HP

Đang chờ nghe ý kiến phê bình của bác Nguyễn Bá Tấu.

Nguyễn Bá Tấu

Trong chiến tranh, tôi làm ở một tờ báo Quân khu. Bộ phận làm báo có biên chế chưa đến mươi người, mà có hẳn một cán bộ chính trị phụ trách cấp bậc thượng úy. Hết chiến tranh, trong dịp ra Hà Nội công tác, tôi được một anh bạn nhường cho một vé mời vào Nhà hát lớn xem vở nhạc kịch Cô Sao. Lần đầu tiên được biết và được ngồi vào hàng ghế hạng dành cho các thủ trưởng tại Nhà hát lớn Hà Nội, tôi rất háo hức. Vậy mà đã qua mấy chục năm rồi. Nay được biết gia đình NS Đỗ Hồng Quân đầu tư kinh phí để phục dựng và phổ biến vở nhạc kịch này, tôi xin được có một vài cảm nhận như sau :

Về nội dung kịch bản, các báo mạng nhắc lại :Nhân vật chính của vở nhạc kịch là Cô Sao - người con gái dân tộc Thái có sắc đẹp, tuổi trẻ nhưng nhà nghèo, mồ côi và rơi vào cạm bẫy của quan lang muốn biến cô thành gái xòe để mua vui. Cuộc đời của cô trải qua nhiều gian truân, cực khổ trước khi giác ngộ cách mạng. Chủ đề trong câu chuyện về cuộc đời Cô Sao là cách mạng giải phóng con người . Thời mà cố NS Đỗ Nhuận sáng tác vở nhạc kịch này, nằm trong cảm hứng chủ đạo của các văn nghệ sỹ lúc đó là minh họa, tụng ca. Vì thế cốt truyện Cô Sao có thể tìm thấy trong không ít các tác phẩm văn học khác với một công thức chung khá giản đơn là : Nhân vật chính bị lũ quan lang (nếu là ở miền núi) và bọn địa chủ cường hào, ác bá (nếu ở miền xuôi) đè nén áp bức , sau đó được ánh sáng cách mạng rọi chiếu rồi được giác ngộ trở thành những cốt cán của đảng, của cách mạng, sau đó là cách mạng thành công, cờ hồng tung bay, họ được đổi đời và nguyện trọn đời theo đảng, trọn đời biết ơn cách mạng v.v… và v.v…

Về diễn viên thể hiện, hồi đó bao cấp hoàn toàn nên các ca sỹ rất nổi tiếng và tài năng thực sự, là những giọng ca vàng của nền âm nhạc nước ta lúc đó, tham gia thể hiện cũng là thực hiện nhiệm vụ được phân công. Với chất giọng trời cho , lại được đào tạo rất bài bản, chuyên nghiệp, kíp ca sỹ trong vở Cô Sao đã hoàn thành rất xuất sắc. Tuy nhiên, dù tài năng, nhưng do không phải là diễn viên của sân khấu kịch, nên họ chỉ chinh phục khán giả qua giọng hát.

Cảm hứng minh họa, tụng ca được thể hiện bằng ngôn ngữ âm nhạc qua vở nhạc kịch Cô Sao, phải nói là sự tận tụy rất hiếm có của cố NS Đỗ Nhuận. Bởi lẽ, nước Việt ta không có trong bản đồ loại hình opera (kịch hát” ) của thế giới . Trong văn hóa thẩm mỹ nghệ thuật sân khấu, dân ta từ xa xưa chỉ quen với “chiếu chèo” (rồi sau phát triển lên thành sân khấu chèo), quen với sân khấu tuồng, với sân khấu cải lương v.v… Sân khấu kịch nói, nếu tôi nhớ không nhầm thì mãi tới cuối 1930 đầu 1940 mới tương đối phổ biến.

Việc gia đình NS Đỗ Hồng Quân tự bỏ kinh phí ra để phục dựng và phổ biến vở nhạc kịch Cô Sao, tôi cho là một việc làm rất văn hóa của thế hệ con, cháu của cố NS Đỗ Nhuận tỏ lòng tri ân, kính hiếu với người cha, người ông của mình. Đó cũng là hạnh phúc của cố NS Đỗ Nhuận. Còn việc phục dựng, phổ biến vở Cô Sao thành công đến đâu, được công chúng đón nhận như thế nào lại còn tùy thuộc vào tâm thế của thời đại, vào tư duy cảm thụ nghệ thuật của các thế hệ thuộc mọi lứa tuổi hiện nay.

Có người nêu câu hỏi rằng, tâm thế của thời đại hiện nay là gì ? Tôi không dám và cũng không đủ trình độ để bàn sâu về nó. Tôi chỉ thiển nghĩ thế này : Thời đại hội nhập toàn cầu với công nghệ thông tin ngày càng hiện đại, thì không có một quốc gia nào trên trái đất này là ốc đảo cả. Vào năm 1987 Nhà Văn có tài năng và nhân cách đáng kính là Nguyễn Minh Châu đã viết “Lời ai điếu cho một thời kỳ văn học”, thì bây giờ chỉ một cái nhấp chuột cả một thế giới thông tin đã hiện ra, giúp cho người ta thấy được những gì mà lâu nay chưa thấy, biết được những gì mà trước kia chưa biết, nhận thức được những gì mà lâu nay mình cứ ấu trĩ để mù quáng, chấp nhận mà tung hô. Và, nhờ vào mạng, tôi mới được biết bản hợp xướng còn nóng bỏng tính thời sự, chắc chắn sẽ đi cùng dân tộc này đến muôn đời trước họa bành trướng phương bắc. Đó là bản hợp xướng “ Tiếng hát người chiến sỹ biên thùy” nổi tiếng của NS Tô Hải mà cách nay 50 năm cũng vang lên ở Nhà hát lớn Hà Nội với sự tham gia của 04 đoàn văn công. Bản hợp xướng bất hủ này lẽ ra phải được vang lên, liên tục được vang lên, thì từ mấy chục năm qua đã vắng bóng. Hiện nay NS Tô Hải tuổi cao sức yếu, đã bệnh tật lại nghèo thì làm sao có điều kiện mà phục dựng ?

 

Hai Lúa

Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến, đánh giá, nhận xét của bác Nguyễn Bá Tẩu. Bản hợp xướng bất hủ "Tiếng hát người chiến sỹ biên thùy" của Nhạc sĩ Tô Hải, là bản hợp xướng đầu tiên của nền âm nhạc Việt Nam(năm 1959), vừa có giá trị lớn về mặt lịch sử, vừa có giá trị cao về mặt nghệ thuật. Rất xứng đáng để Hội Nhạc sĩ Việt Nam đứng ra phục dựng.

 

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Các bài viết khác