Trang chủ | Chủ nhật, 22/10/2017 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 14084823
Trang chủ » Luận bàn

RỘN RÀNG CUNG BẬC M'NÔNG

Thứ tư, 19/09/2012

Chu Mạnh Cường

ronrangNgười Mnông là một dân tộc quần cư lâu đời ở miền trung Tây Nguyên. Đồng bào nói tiếng Môn-Khơ Me và sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt, chăn nuôi và đan lát. Tuy cuộc sống vất vả song người dân có đời sống âm nhạc hết sức tao nhã với nhiều loại nhạc cụ độc đáo, nhiều bản đàn, bài ca, điệu hát rộn rã.Với mọi người, âm nhạc vừa là món ăn tinh thần quan trọng vừa là vật nối tâm linh giữa họ với cội nguồn tổ tiên, thần linh, thiên nhiên và xã hội. Ngày xuân, mọi nhà luôn mang các nhạc cụ ra chơi và say trong tiếng đàn, tiếng hát dìu dặt suốt sáng đến đêm thâu.

Nhờ nhạy cảm, giỏi thẩm âm và tìm tòi sáng tạo, từ cách đây hàng nghìn năm, người Mnông đã làm được bộ đàn đá nguyên sơ đầu tiên ở Tây Nguyên thể hiện sự giao hòa cũng như chinh phục của con người đối với thiên nhiên hùng vĩ. Đến nay, đồng bào vẫn tạo tác và giữ gìn được nhiều nhạc cụ cổ truyền đặc sắc, về chủng loại rất đa dạng gắn với nhiều cách thức biểu diễn như gõ, thổi, búng, gảy, kéo, vỗ... Tựu chung về bộ gõ có dàn chiêng Chungbor, chiêng ống, chiêng tre, trống Sogor, mõ Ding Dor, đàn đá Gong Luh, đàn gỗ Tlung Tlor..., về bộ dây có đàn Goong, đàn Gong Reng; về bộ hơi có khèn bè Mbuot, kèn sừng trâu Hnung Kytol, kèn bầu Hnung Rlet, kèn Tung Gor, tiêu Hnung Ba, đàn môi Guec, sáo Wao, Lot-Nhum, Mblo,... Các nhạc cụ này đều được chế tác từ nguyên liệu dễ kiếm, chủ yếu từ đá, lá cây như lá dương xỉ, lá rtih, que gỗ, ống lồ ô, quả bầu nậm và sừng trâu... Chúng cũng có cấu tạo nhẹ nhàng, đơn giản dễ làm như treo, gá, móc, lồng, ghép và nhờ sự lúc lắc khi mắc trên dây, sự rỗng ruột của ống nứa và sự cộng hưởng trong lòng quả bầu, âm thanh vang rất xa.

Tiêu biểu từ đá, người Mnông có đàn đá Gong Luh là nhạc khí tự thân vang, gồm một bộ sáu thanh đá có kích thước lớn bé và hình dáng khác nhau. Thanh dài nhất khoảng 30 centimét, thanh ngắn nhất chừng mười centimét, nặng khoảng dăm, bảy kilôgam. Mỗi thanh có âm sắc tương ứng với một chiếc chiêng trong bộ chiêng Cung Bor sáu chiếc. Đàn đá là một nhạc khí cổ xưa đã được đồng bào dùng để đuổi chim thú, bảo vệ mùa màng và sau này phục vụ các sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Ngày thường, người dân thường cất chúng trong gùi lớn, đến lễ tết mới mang ra trưng bày, biểu diễn. Vì ý nghĩa linh thiêng, đây là nhạc cụ duy nhất trong ngày hội ăn trâu, uống rượu cần được chủ nhân lấy máu trâu bôi vào cho cùng ăn trâu, chia sẻ niềm vui với gia đình, bon làng.

Từ lá cây, có kèn lá là nhạc cụ đơn giản nhất, chỉ cần lấy lá gập lại đưa vào miệng thổi. Những buổi lên rẫy, lên rừng nam nữ thường ngắt lá, cắt cuống, gấp đôi theo sống lá làm một chiếc kèn thổi cho vui. Mỗi khi cất lên, kèn lá cũng cho những thanh âm bổng trầm mê ly.

Từ một đoạn trúc nhỏ dài khoảng 20 centimét, đục năm lỗ có tiêu một ống Hnung Ba phát ra tiếng kêu trầm ấm, mơ màng. Rừng núi Tây Nguyên có rất nhiều tre trúc. Ngoài chặt về chẻ nan đan gùi, giỏ làm kinh tế, nam giới Mnông thường chọn những đoạn trúc thon mỏng làm thành cây tiêu thổi lúc buồn và khi trông rẫy xua đuổi chim thú phá hoại cây trồng.

Từ ống nứa và quả bầu khô, có kèn bầu Hnung Rlet – một nhạc cụ quan trọng, chủ đạo trong nhiều sinh hoạt văn hóa đầu xuân đặc biệt là lễ hội có ăn trâu của đồng bào. Kèn bầu có cấu tạo gồm một ống nứa dài chừng 30 centimét, đường kính 1,5 centimét, đục ba lỗ cho ba âm vực tương ứng với ba chiếc chiêng dẹt trong bộ chiêng Mnông, cắm một đầu vào ngang thân một quả bầu khô nhỏ, gắn lưỡi gà làm bộ phận phát âm, để trống đầu còn lại hoặc cắm xuyên qua một ống nứa khác ngắn một nửa nhưng to gấp đôi, có một mắt kín, một mắt hở và bị vát nhọn có tác dụng cùng với quả bầu làm hộp cộng hưởng, giúp tiếng kèn bay cao. Khi chơi, nghệ sĩ sẽ ngậm núm quả bầu, tay phải (hoặc tay trái) đỡ thân bầu, tay còn lại nắm ống sáo và dùng các ngón để bấm các lỗ điều chỉnh thanh âm.

Người Mnông tin rằng cây kèn bầu có sức mạnh xua đuổi ma tà cũng có thể mời gọi thần lúa, thần rừng về phù hộ dân gian được ấm êm, no bụng. Thường khi thu hoạch được 100 gùi lúa, cả bon hoặc các đại gia đình lại tổ chức lễ đâm trâu ăn mừng và biểu diễn kèn Hnung Rlet. Người ta sẽ làm một cái giàn cao bên cạnh cây nêu buộc trâu để nghệ sĩ ngồi trang trọng trên đó thổi kèn mời gọi các yàng - thần linh về dự hội. Người thổi thường là già làng, chủ nhà hoặc nam nữ có uy tín. Để khai mạc lễ hội, nghệ sĩ sẽ thổi những bản nhạc vui mô phỏng tiếng chim mùa xuân khắc họa sự chuyển động của đất trời và sự xốn xang của lòng người trong ngày hội  vui của bon làng. Ngay từ nhỏ các em nam đã biết chế tạo và thổi Hnung Rlet ở trước cửa nhà và ngoài rẫy, tiếng kèn rất trong và réo rắt, cách xa vài con dao quăng vẫn nghe thấy. Các gia đình vào mùa bội thu cũng làm Hnung Rlet. Nhà nào cũng mở rộng cửa để dẫn hồn lúa từ rẫy về nhà, và khi đưa lúa vào kho đều tấu lên những bài kèn bầu hết sức vui say.

Cũng từ ống nứa và quả bầu, có khèn bè Mbuot là nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà rung tự do. Mbuot được làm từ sáu ống tre xếp thành hai hàng cắm xuyên qua một quả bầu khô. Người dân thường thổi Mbuot khi có tâm sự nhất là khi trai gái muốn tỏ tình cùng nhau nhờ tiếng khèn da diết, biến tấu mau lẹ.

Từ ống lồ ô, có Ding Dor - một loại chiêng tre và cũng có thể gọi là mõ. Ding Dor là một ống lồ ô to dài khoảng 50 centimét, có một mắt kín, một mắt hở bị vát đầu, khoét rãnh đến phân nửa chiều dài ống. Khi chơi người ta dùng dùi gõ vào thành ống. Ding Dor thường được dùng để thông báo với bon làng khi nhà có người mất và hòa tấu cùng một số nhạc cụ trong lễ tang và một số lễ hội vòng đời. Âm thanh rất đanh và trường, không kém tiếng cồng chiêng.

Cũng từ ống lồ ô, người Mnông chế được đàn Goong. Lấy một đoạn ống lồ ô dài khoảng 60 centimét, đường kính năm centimét còn nguyên hai mắt, ở một đầu đục lỗ mắc dây và gắn với một quả bầu, ở đầu kia và dọc thân của ống đục tám lỗ tra trục lên dây và quấn mỗi đầu dây vào từng trục này. Tùy nơi, dây đàn có thể là dây tơ vuốt sáp  hoặc dây kim loại. Mỗi dây phát ra một âm và được khuyếch đại bởi ống tre và quả bầu với chức năng hộp cộng hưởng. Nam giới thường dùng đàn này để chơi độc tấu các bản cồng chiêng hoặc đệm hát và hòa âm trong các buổi biểu diễn nhạc lễ và hát thần. Khi chơi, chống bầu đàn vào bụng, đưa phần vĩ về trước và dùng các ngón trỏ,  ngón cái để gảy đàn từ dưới lên.

Hoặc có đàn Gong Reng. Lấy ống lồ ô già hai lóng dài khoảng 60 centimét, đường kính tám centimét, có ba mắt đục thông. Ở mắt đầu tiên, đục lỗ tách sáu sợi cật và thế vào đó sáu sợi dây đàn ngắn dài khác nhau gồm hai cặp dây đôi và hai dây đơn, bên dưới đệm các mảnh tre nhỏ làm cầu đàn. Cặp dây thứ nhất cho âm vực tương ứng với hai nốt đô và son, cặp thứ hai cho son si và hai dây đơn cho si mi. Khi chơi, người ta ngồi trên sàn, một chân tỳ vào mắt thứ ba đồng nghĩa với đáy đàn, chân kia giữa đầu đàn, và lấy các ngón tay búng gảy vào sáu dây đàn. Gong Reng thường dành cho nam giới tấu lại các bài cồng chiêng và hát giao duyên.

Từ gỗ, có cây đàn Tlung Tlor. Bằng bốn thanh gỗ ngắn dài khác nhau, thanh ngắn nhất dài 100 centimét, dày bốn centimét, thanh dài nhất 135 centimét, dày sáu centimét treo thành dàn theo chiều tăng dần trên một giá đỡ và được néo nhờ các dây thép. Khi chơi thì dùng dùi gỗ để gõ. Âm vực rộng một quãng tám, mỗi thanh cho một âm tương ứng với các nốt: mi, pha, si, rê. Người ta thường đánh Tlung Tlor để xua đuổi thú rừng phá rẫy. Có thể một nam, một nữ hoặc cả hai cùng song tấu đàn này.

Từ sừng trâu, có tù và- kèn sừng trâu Hnung Kytol cũng là nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà rung tự do dùng khi săn bắn, chiến đấu hay báo tin quan trọng cho bon làng. Nhờ cường độ âm thanh chói tai, huyên náo cả một vùng nên nó được thổi để dồn đuổi con thú vào chỗ đang giăng bẫy. Tù và cũng góp mặt trong các lễ hội và buổi cúng tế lớn để kêu gọi, liên kết cộng đồng. Thường chỉ có một người trong cả một ban nhạc diễn tấu tù và. Thổi tù và luôn là tù trưởng và nam giới khỏe mạnh, có đức cao vọng trọng được dân gian tuyển cử dẫn đầu.

Nói chung, đàn, kèn, sáo của người Mnông khá mộc mạc, thường chỉ gồm một ống tre nhỏ đục nhiều lỗ thoát âm và gắn thêm các ống trúc- ding hoặc kim loại- tong và kết hợp với quả bầu. Tuy giản dị song mỗi cái đều cho âm sắc luyến láy phức hợp thể hiện nhiều cung bậc tình cảm. Người Mnông có tới 12 loại đàn tre như vậy. Hình dáng rất tao nhã với chiếc ống màu vàng thanh mảnh và quả bầu nâu bóng tròn trịa. Khi tấu kèn sáo, người ta không chỉ thổi mà còn biết kích âm bằng cách vỗ, gõ, cò cưa, dỗ, dọng... và thường dùng nhạc đàn để đệm, dắt tạo nền cùng với cồng chiêng, ca hát nhảy múa thực hiện các nghi thức cúng tế.

Từ lâu, người Mnông cũng nổi danh với những bộ cồng chiêng quý giá góp phần không nhỏ làm nên Không gian văn hóa cồng chiêng  Tây Nguyên, kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể nhân loại. So với cồng chiêng của nhiều dân tộc, cồng chiêng Mnông khá nhỏ, đường kính chỉ khoảng 40 centimét song có lẽ vì thế mà tạo nên sự duyên dáng đặc biệt. Tuy nhiên, cồng chiêng Mnông nói riêng và cồng chiêng của Tây Nguyên nói chung đều là thứ nhạc cụ có tính chất sơ khai, biểu trưng cho mặt trời, mặt trăng, cùng những âm thanh trong trẻo, to, rõ khởi nguồn của đất trời, gắn với thế giới tâm linh của tộc người và là chiếc cầu nối giúp con người liên hệ trực tiếp với yang.

Với người Mnông, cồng chiêng vừa để vui chơi hàng ngày vừa để phục vụ lễ hội và các hoạt động sinh hoạt văn hoá, tinh thần và tín ngưỡng của con người gồm lễ nghi nông nghiệp- vòng đời  của cây cối như lễ đốt rẫy, gieo hạt, trừ sâu, mừng lúa trổ đòng và hoa trái...; lễ nghi về vòng đời người như lễ sơ sinh, đặt tên, thôi nôi, trưởng thành, mừng thọ, cưới hỏi, tang ma, bỏ mả; lễ nghi gia đình như lễ dựng nhà, đón khách, tiễn biệt; lễ nghi cộng đồng như lễ đâm trâu, săn voi, xuống đồng, nhập bon, mừng chiến thắng... Lúc nào ở đâu cũng thấy tiếng cồng chiêng rộn ràng, hùng tráng được nam thanh nữ tú thực hiện một cách nhịp nhàng, tinh tế. Nhờ âm thanh ngân nga, vang dội nên cồng chiêng được dùng để thông báo các tin mừng. Với người Mnông, đây là phương tiện giải trí cũng là tiếng nói tâm linh diễn tả niềm vui trong cuộc sống lao động và sinh hoạt hằng ngày của cộng đồng, và tiếng nói để thức tỉnh và khơi dậy sức mạnh đoàn kết. Ngoài ý nghĩa đó, cồng chiêng cũng là hình ảnh biểu tượng của bon làng thịnh vượng, no ấm.

Vì cồng chiêng là nhạc lễ nên ở mỗi nghi thức người Mnông sẽ tấu một bài riêng. Đồng bào có tới 40 bài cồng chiêng biểu diễn trong các buổi sinh hoạt văn nghệ gia đình hoặc cộng đồng khác nhau, như Boh sron (đâm trâu), Nao ga nghet (rủ nhau uống rượu), Nao sru sru (mời cơm), Nao thor te that (rã bạn), Nao tap rung phan (kể chuyện buồn), Nao ntok kleng (rủ nhau thả diều), Nao hoach (đi thổi sáo), Nao kring (chim kring), Bi ap kon yun (con nai), Khang uh duh (con đại bàng), Tarah rling (con chèo bẻo),... Ngoài độc tấu, người ta còn hòa âm cồng chiêng với nhiều nhạc cụ dân tộc khác để tạo nhịp điệu vừa trầm lắng, oai hùng vừa réo rắt, nỉ non. Nhưng tiếng cồng chiêng vẫn là âm thanh nổi trội nhất  thu hút mọi giác quan, khiến muôn con tim rạo rực và trở thành đặc điểm dễ nhớ nhất về thanh sắc, con người Tây Nguyên.

Đều là nhạc cụ bằng kim loại (hợp kim đồng, nhiều khi pha vàng), nhưng người Mnông gọi loại có núm vồng ở giữa là cồng (gong) và loại không có núm là chiêng (cung). Biên chế một dàn chiêng Chungbor luôn có sáu chiếc và dàn cồng Gondbeh có ba chiếc. Mỗi chiếc chiêng được đặt tên theo mẫu hệ từ lớn đến nhỏ là: May (mẹ); Rnul (bố); NDot (con cả), Loa (con thứ), Tore (con áp), Tê (con út). Mỗi cái cho một nốt nhạc, khi phối ngẫu trở thành giai điệu. Chiêng cái lớn nhất có nhiệm vụ khởi xướng và giữ nhịp, chiêng đực phụ nhịp cho chiêng cái, chiêng cả đổi giai điệu, chiêng thứ trả lời. Trong dàn chiêng cũng thường có một chiếc trống bằng gỗ bọc da trâu, cỡ vừa có thể đeo trước ngực, có tác dụng phụ họa. Cũng có bộ chiêng Cung Prak chỉ gồm ba chiếc. Đây là một loại chiêng nhỏ, có núm, đường kính dưới 20 centimét. Loại chiêng này rất quý vì được làm từ hợp kim đồng-vàng, tiếng thanh, ròn rã. Chỉ một số gia tộc mới và khi làng mở hội mới đem ra dùng, trước đó phải làm lễ cúng. Người ta sẽ đánh bộ chiêng này mở đầu cho các dàn chiêng và nhạc cụ trong lễ hội. Và vì chiêng cổ, hiếm quý nên có ý nghĩa rất lớn, gợi nhớ cội nguồn.

Với người Mnông, cồng chiêng là tài sản quý cả về mặt tinh thần lẫn vật chất. Thường một cái cồng, chiêng có giá trị  bằng nhiều con trâu bò. Chiêng cổ có giá trị bằng cả đàn trâu hoặc con voi. Và do đó đây là biểu tượng của sự giàu sang. Sau khi tậu về, người ta sẽ nhờ nghệ nhân chỉnh độ rung, ngân và lưu giữ truyền đời. Nhà nào có nhiều cồng chiêng cổ sẽ được vọng trọng. Thường ngày cồng chiêng được treo trên vách nhà hoặc giữ trong sọt. Trước lễ hội, mới hạ xuống kỳ cọ và đánh thử. Trống thường được đánh với cồng chiêng tạo không khí ấm cúng của ngày lễ đâm trâu, mừng cơm mới...

Khác dân tộc khác dùng dùi cui để đánh vào mặt hay lòng cồng chiêng và trống, người Mnông thường dùng tay vỗ, đập. Người chơi thường đứng hơi khom, xếp hình vòng cung, đi theo thứ bậc các chiêng. Khi biểu diễn, tay trái đỡ trong mặt lõm, tay phải đánh lên mặt chiêng. Lúc tiến lúc lùi, lúc tay chụm lúc tay

xòe hay xoa vỗ trên mặt chiêng. Nên ngoài nghe nhạc người xem còn thấy cử chỉ, động tác vỗ về rất uyển chuyển, mềm mại. Nhờ nhịp điệu khoan thai, nhấn nhả nghe cồng chiêng Mnông như thể đang nghe một cuộc đàm thoại, bộc bạch giữa người với người, người với vật, người với thần và thiên nhiên.

Do tôn sùng nhạc cụ, người Mnông luôn coi nhạc cụ là nơi trú ngụ của linh hồn tổ tiên, thần linh, trời đất, cũng là nơi gìn giữ tiếng gọi của tự nhiên, cho mọi người gửi gắm và cất lên những lời nhắn nhủ với cây trồng vật nuôi, với cha mẹ anh em. Và họ chơi nhạc để thức tỉnh tâm linh, cầu mong thần vật che chở. Vì vậy, mỗi sự việc trong đời sống hàng ngày của từng người và bon làng đều đắm chìm trong tiếng nhạc. Khi một đứa trẻ chào đời, mọi người sẽ gõ chiêng, cồng chào mừng, khi một người quá cố cũng có tiếng trống tiếng đàn tiễn biệt. Khi nhà có khách, gia chủ liền ra tận cửa đánh chiêng, thổi sáo nghinh đón.

Trong phạm vi chuyện làng như để triệu tập hoặc báo hiệu một sự kiện trọng đại có tiếng kèn trâu- tù và Hnung Kytol, để mở một ngày hội có tiếng cồng chiêng Cung Bor, Cung Dung, trong khuôn khổ chuyện riêng của từng người như để tỏ tình, giao duyên có đàn môi Guec, đàn Tlung Tlor, để tự sự thể hiện nỗi lòng thầm kín có đàn Gong Reng, khèn bè Mbuot, sáo Wao... Bình thường mọi người chơi nhạc để chia xẻ với nhau, người Mnông còn chơi nhạc để nói chuyện với tự nhiên và thần thánh như để an ủi linh hồn con trâu trong lễ đâm trâu, khích lệ con voi thi đấu trong trò đua voi đầu xuân, đón yàng và tổ tiên về ăn cỗ mừng nhà mới, mời thần rừng đến chứng trong lễ tra hạt (cấm muông thú nào xâm hại), đón nàng lúa Rangba về kho,... Ai cũng có thể chơi nhạc dù trai hay gái.

Nữ giới thậm chí còn đóng vai trò quan trọng trong đội hình cồng chiêng vốn chỉ dành cho nam giới ở dân tộc khác. Không chỉ đánh giỏi nhạc cụ dân tộc mình, nhiều người còn chơi thành thạo nhạc cụ của các dân tộc anh em láng giềng như Ê đê, Ba Na, Gia Rai...Ngoài nhạc, đồng bào có rất nhiều bài ca, lời hát bắt nguồn từ thần thoại hùng tráng. Từ những truyền thuyết, truyện cổ, tục ngữ, ca dao và bộ sử thi đồ sộ Ot Nrong gồm 165 thiên sử, người dân đã xây dựng nên các bài ca, điệu đàn đặc sắc như Cây nêu thần -Tam Nget, Mùa rẫy - Bon Tiang... Đặc biệt người Mnông có lối hát nói, kể văn độc đáo trong đó dùng vần đối vần nổi bật là các lối hát kể chuyện thơ - Ngon Borah, hát kể chuyện cổ văn vần - Tam Ndring/ Nao Mpring, hát đối đáp nam nữ - M'Pro, hát đố - Tam Hor, hát khóc - Mim Bok/ Mim Khit, hát kể gia phả - Nkok Yao... Kể khan một một hồi rồi ngồi nghỉ hút thuốc, uống rượu, lúc sau kể tiếp mấy đêm liền. Cha kể cho con, anh kể cho em. Nam kể cho nữ và ngược lại ở trong nhà, trước cửa, liên nhà liên bon thu hút nhiều quan khách. Đồng bào cũng tham gia vào các lễ hội quốc gia, chung vui cùng các dân tộc khi ấy không gian, thời gian, con người, thiên nhiên hòa làm một. Vui và sinh động nhất là ngày hội đầu xuân, ai nấy tay trong tay ca hát suốt đêm và mở những vòng xòe, vòng xoang rộng dài thâu đêm dưới ngọn cây nêu, bên ché rượu cần và đống lửa hồng.

Đến Tây Nguyên, vào bất cứ lúc nào ở các lễ hội xuân trong không gian rộng lớn của bon làng, trên nương rẫy, bên bến nước bạn sẽ được chiêm ngưỡng các nghệ sĩ biểu diễn, và dòng nhạc náo nức đặc trưng bởi tâm hồn trẻ trung, yêu đời cho dù người biểu diễn mới chỉ non chục tuổi hay đã bạc đầu đi nữa.

 

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác