Trang chủ | Thứ hai, 22/12/2014 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 10856065
Trang chủ » Đĩa nhạc

ĐỘC TẤU HÒA TẤU NHẠC CỤ DÂN GIAN VIỆT NAM 1 (VCD)

Thứ tư, 08/08/2012

Doctau1. Giới thiệu

2. Hoà tấu nhạc cung đình Bài: Long ngâm
Biểu diễn: Dàn Tiểu nhạc cung đình Huế


Trước kia dàn Tiểu nhạc được sử dụng trong các đám rước, yến tiệc của triều đình. Biên chế dàn Tiểu nhạc gồm các nhạc cụ ở ba nhóm: gõ, hơi, dây (gẩy và kéo). Ngoài chức nǎng hoà tấu, dàn Tiểu nhạc được dùng đệm cho hát, múa hoặc kết hợp với các dàn nhạc khác trong nhiều nghi lễ của cung đình. Hiện nay, biên chế dàn Tiểu nhạc được bảo tồn tại Huế gồm các nhạc cụ: Nguyệt, Tỳ bà, Tranh, Tam, Nhị, Sáo, Trống con, Sênh tiền, Tam âm la.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, Long Ngâm là tên 1 bản nhạc đã có từ thời Trần (thế kỷ XIII) do viên quan Trịnh Trọng Tử sáng tác nhân đám tang vua Trần Nhân Tông.

3. Hoà tấu nhạc cung đình Ba đoạn Ai - Thương - Cung đảo
Biểu diễn: Dàn Đại nhạc cung đình Huế


Trong nhiều tổ chức dàn nhạc cung đình xưa, Đại nhạc là 1 dàn nhạc có quy mô lớn cả về khối lượng và âm lượng, khoảng hơn 40 nhạc cụ. Đặc biệt là các nhạc cụ gõ, có ở cả ba chất liệu: đá (biên khánh), đồng (biên chung), da (trống). Dàn Đại nhạc kết hợp với các dàn nhạc khác tấu nhạc khi có sự hiện diện của Vua trong các lễ trọng đại của triều đình như: lễ Đại triều, lễ Thường Triều, lễ Tế Giao... Hiện nay, biên chế dàn Đại nhạc được bảo tồn tại Huế có số lượng giảm nhiều, chỉ còn: kèn bầu đại, kèn bầu trung, trống bồng, trống chiến, mõ sừng trâu, sênh tiền và có thêm đàn nhị. Ba bài Ai-thương-Cung đảo là hình thức tấu nhạc theo kiểu liên khúc thường được sử dụng trong âm nhạc cung đình Việt Nam.

4. Hát Xẩm Trích bài Xẩm “Công cha ngãi mẹ sinh thành”
Biểu diễn: Nghệ nhân Hà Thị Cầu dân tộc Kinh, tỉnh Ninh Bình


Hát Xẩm là hình thức hát rong có địa bàn hoạt động khắp cả nước. Nhưng chỉ trong hát Xẩm cổ vùng đồng bằng Bắc bộ mới có làn điệu riêng. Bài Xẩm “Công cha ngãi mẹ sinh thành” được hát theo điệu Xẩm Thập ân, với nội dung rǎn dạy con người phải luôn ghi nhớ đến công lao dưỡng dục của cha mẹ. Khi biểu diễn, người hát Xẩm thường vừa hát vừa đánh đàn bầu (còn gọi là đàn Xẩm) hoặc kéo nhị, phối hợp với người đánh sênh, vỗ trống mảnh-đây là những nhạc cụ thường sử dụng trong dàn nhạc Xẩm. Đôi khi có thêm cả trống đế, mõ hoặc một số nhạc cụ khác.

5. Hòa tấu cồng sắc bùa Dân tộc Mường
Biểu diễn: Nhóm nghệ nhân dân tộc Mường, tỉnhHoà bình


Dàn cồng của người Mường sống ở vùng núi phía Bắc Việt Nam được gắn với lễ nghi chúc mừng nǎm mới, gọi là Sắc bùa. Vào dịp lễ Tết hàng nǎm, khi phường bùa đến từng nhà chúc xuân, mỗi người chơi 1 cồng và hát chúc phúc cho gia chủ. Dàn cồng Sắc bùa thường gồm 12 chiếc cồng bằng đồng, có núm với nhiều kích cỡ khác nhau. Mỗi cồng đều có tên gọi riêng, tên biểu hiện vị trí cao độ của cồng. Trước kia, dàn cồng Sắc bùa với 12 chiếc cồng phải do 12 cô gái - tượng trưng cho 12 tháng đánh.

6. Khua luống Dân tộc Thái
Biểu diễn: nhóm nghệ nhân dân tộc Thái, tỉnh Thanh Hoá


Luống là một loại cối giã gạo hình thuyền dài khoảng 225cm, với 6 chiếc chày để 6 người cùng giã gạo. Qua thực tiễn lao động, người Thái sống ở vùng núi thấp phía Bắc Việt Nam đã biến Luống từ một công cụ lao động thành 1 nhạc cụ gõ. Để tạo ra nhiều âm sắc khác nhau, nhiều âm hình tiết tấu khác nhau, người ta chơi Luống bằng cách gõ chày xuống lòng luống, gõ chày lên thành luống hay đập các chày vào nhau. Khua Luống đã trở thành một hình thức sinh hoạt âm nhạc có mặt trong nhiều sinh hoạt của người Thái.

7. Múa Kh’ềnhDân tộc Mông
Biểu diễn: Nghệ nhân Giàng Seo giơ dân tộc Mông, tỉnh Hà Giang


Kh’ềnh là nhạc cụ hơi đa thanh của người Mông sống ở vùng núi cao phía Bắc Việt Nam. Với người Mông, Kềnh vừa là nhạc cụ vừa là đạo cụ múa dành riêng cho nam giới sử dụng. Các chàng trai Mông thường thổi Kh’ềnh thay cho lời tỏ tình với các cô gái và chính các điệu múa “Lǎn dốc”, “Chọi gà” này, đã từng làm cầu nối tình yêu cho bao đôi trai gái Mông.

8. Độc tấu Pí tót Dân tộc Khơ mú
Biểu diễn: nghệ nhân dân tộc Khơ Mú, tỉnhYên Bái


Pí tót là loại sáo thổi ngang của người Khơ mú sống ở vùng núi cao phía Bắc Việt Nam. Về cấu tạo, Pí tót là 1 ống trúc hoặc nứa dài 79 cm, một đầu có mấu bịt kín. Trên thành ống chỉ có 1 lỗ để thổi và 1 lỗ để bấm tạo cao độ. Hàng âm của Pí Tót tương ứng với các nốt: la - đô - rê - mi. Pí Tót là nhạc cụ dành cho phụ nữ và được thổi bằng mũi. Khi chơi, người phụ nữ đặt sáo lên ngang mũi, có thể vừa thổi vừa hát. Vào dịp thu hoặch mùa màng, đêm khuya trên chòi canh lúa, người phụ nữ Khơ Mú thổi Pí Tót lên để gọi bạn cho đỡ buồn.

9. Hoà tấu Ân toong, Câr doc adol, A Doong Dân tộc: Tà Ôi
Biểu diễn: nhóm nghệ nhân dân tộc Tà ôi, huyện A lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế


Người Tà Ôi (còn gọi là Pa Kô) sinh sống ở vùng núi cao Trung bộ Việt Nam có nhiều nhạc cụ gắn với sinh hoạt thường ngày, dễ làm dễ kiếm từ những sản vật địa phương. Ân Toong là nhạc cụ tự thân vang gồm 7 đoạn gỗ dài ngắn khác nhau treo trên một cái giá. Câr doc a dol là nhạc cụ hơi lưỡi gà rung tự do được làm bằng sừng sơn dương. A Doong là 1 khúc tre sử dụng như một cái mõ. Cả ba nhạc cụ này đều dành cho nam giới sử dụng và dùng hoà tấu trong sinh hoạt thường ngày của người Tà Ôi.

10. Song tấu Areng Dân tộc: Pa Kô
Biểu diễn: hai nghệ nhân dân tộc Pa kô, huyện A lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế


Areng là một loại sáo thổi dọc có l lưỡi gà làm bằng nứa. Về cấu tạo, nó là 1 ống nứa dài 36 cm, đường kính 0,5 cm. Âm vực của Areng nằm trong khoảng 1 quãng 8 với hàng âm gồm ba âm: son la si. Areng là nhạc cụ dùng trong sinh hoạt giao duyên để nam nữ tỏ tình, tâm sự với nhau. Điểm đặc biệt là cả hai người cùng thổi 1 ống, khi người này thổi thì người kia giữ ống Areng trong mồm, đồng thời trong cổ họng phát ra những âm thanh có cao độ khác nhau. Cách sử dụng này đã tạo nên nhiều âm bồi độc đáo cho Areng.

11. Hòa tấu Cing Knǎh Dân tộc: Êđê
Biểu diễn: Nhóm nghệ nhân dân tộc Ê Đê Kpa, tỉnh Đắc Lắc


Người Êđê Kpa tỉnh Đắc lắc gọi chiêng có núm là Cing, chiêng bằng là Knǎh. Dàn Cing Knǎh gồm 9 chiếc được làm bằng đồng với nhiều kích cỡ khác nhau, chiếc nhỏ nhất có đường kính 34 cm và chiếc lớn nhất là 51 cm. Mỗi chiêng đều có tên gọi riêng và do 1 người sử dụng. Khi hoà tấu, người sử dụng để Cing Knǎh trên đùi, các ngón tay trái lúc giữ lúc nhấc lên có tác dụng ngắt hay kéo dài tiếng chiêng và tay phải cầm dùi đánh vào lòng chiêng. Cing Knǎh là nhạc cụ dành cho nam giới và không bao giờ thiếu vắng trong các lễ hội của người Êđê.

12. Độc tấu Đinh tác ta Dân tộc Êđê
Biểu diễn: Nghệ nhân Y Nuếch Êban dân tộc Ê Đê Kpa, tỉnh Đắc Lắc


Đinh tác ta là nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà. Về cấu tạo, nó là 1 ống nứa dài 44 cm, đường kính 2 cm được cắm xuyên qua vỏ 1 quả bầu khô. Phần ống nứa nằm trong lòng quả bầu có 1 lưỡi gà bằng tre. Phần ống nứa phía ngoài có 3 lỗ bấm, 2 lỗ phía trên và 1 lỗ phía dưới. Cuống quả bầu được dùng làm vòi thổi. Hàng âm của Đinh tác ta tương ứng với các nốt: son - la - đô - rê[1] - mi. Đinh Tác ta là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng. Bản độc tấu Đinh tác ta này người con trai thổi lên để đánh thức con gái dậy giã gạo.

13. Song tấu K’lung K’lor Dân tộc M’nông gar
Biểu diễn: Hai nghệ nhân dân tộc M’nông gar, tỉnh Đắc Lắc


K’lung K’lor là nhạc cụ tự thân vang gồm bốn thanh gỗ khô có kích thước dài ngắn khác nhau, ống ngắn nhất là 100 cm, đường kính 4 cm, ống dài nhất dài 135 cm, đường kính 6 cm, được treo thành dàn trên 1 cái giá. Dùi để gõ bằng gỗ hay cành cây. Âm vực của K’lung K’lor rộng gần 1 quãng 8 và có hàng âm tương ứng với các nốt: mi - #pha - si - #rê[2]. K’lung K’lor thường được đánh lên để xua đuổi thú rừng đến phá hoại mùa màng. Bản đồng tấu K’lung K’lor này do 1 nam 1 nữ chơi theo giai điệu một bài chiêng của người Mnông gar tỉnh Đắc Lắc.

14. Hòa tấu dàn nhạc Dân tộc Chǎm Bài Musumtabang (vui đoàn tụ)
Biểu diễn: Nhóm nghệ nhân dân tộc Chǎm, tỉnh Ninh Thuận


Musumtabang-tiếng Chǎm có nghĩa là vui đoàn tụ, là 1 liên khúc gồm các bài hòa tấu dàn nhạc được rút ra trong các lễ hội gia tộc, lễ hội cộng đồng... của người Chǎm ở tỉnh Ninh Thuận. Trong dàn nhạc có ba nhạc cụ được ví như các bộ phận cơ thể người. Đó là cặp trống Ghì nằng, được ví như đôi chân vững chắc, trống Pa ra nưng là phần thân và kèn Sa ra nai là đầu. Bên cạnh đó còn có đàn Ka nhi và một số nhạc cụ gõ khác như: mõ, lục lạc, chập choã.

15. Độc tấu Ku puốt Dân tộcRaglay Bài Na kíeh pô (đi giữ rẫy)
Biểu diễn: Nghệ nhân Chamalếh Âu, dân tộc Raglay, tỉnh Ninh Thuận


Ku puốt là nhạc cụ hơi đa thanh chi lưỡi gà rung tự do. Về cấu tạo, Ku puốt gồm 6 ống nứa có nhiều kích cỡ khác nhau, ống ngắn nhất là 37cm và ống dài nhất là 78 cm. Các ống có đường kính khoảng 2 cm, xếp thành 2 hàng: trên 4 ống, dưới 2 ống, được đâm xuyên qua vỏ 1 quả bầu khô. Phần ống nứa trong lòng quả bầu mỗi ống đều có 1 lam bằng đồng. Phía ngoài mỗi ống có 1 lỗ bấm. Hàng âm của Ku puốt tương ứng với các nốt: rê #pha son la. Ku puốt là nhạc cụ dành cho nam giới và được người Raglay tỉnh Ninh Thuận sử dụng trong nhiều hình thức sinh hoạt của cuộc sống. Bài “Đi giữ rẫy” được thổi khi ở trên nương.

16. Hòa tấu dàn Ngũ âmDân tộc Kh’mer Nam Bộ Bài: Cau nóc
Biểu diễn: nhóm nghệ nhân dân tộc Kh’mer Nam Bộ, tỉnh Sóc Trǎng


Bản nhạc Cau nóc này được dùng trong lễ cúng Phật của người Kh’mer Nam Bộ, do dàn nhạc Ngũ âm chùa Chruitin Cadal hoà tấu. Trong dàn Ngũ âm, các nhạc cụ thường được treo thành dàn. Hai dàn Cuông (lớn và nhỏ) gồm 32 chiếc cồng có núm bằng đồng. Ba dàn Roneat giống hình chiếc thuyền nên còn gọi là đàn thuyền. Roneat éc gồm 19 thanh tre, Roneat Thom gồm 16 thanh gỗ và Roneat Đêk gồm 21 thanh sắt. Các dàn này cùng hòa tấu với cặp trống Scor phluông- đánh bằng dùi và Scor phô-vỗ bằng tay. Dàn Ngũ âm còn được sử dụng để đệm cho hát, múa trong nhiều sinh hoạt âm nhạc khác của người Kh’mer Nam Bộ.

 (Nguồn: vnmusicology-inst.vnn.vn)

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Các bài viết khác