Trang chủ | Thứ ba, 23/04/2019 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 15288258
Trang chủ » Chuyện nhạc

CÂU CHUYỆN TẠ TỪ

Chủ nhật, 05/12/2010

Tô Vũ kể - Nhật Hoa Khanh ghi

Sáng hôm ấy tại nhà riêng nhạc sĩ Tô Vũ (299 Bis, Nguyễn Văn Trỗi, Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh), tôi được ông tiếp chuyện lần thứ ba.

Câu chuyện lần này xoay quanh việc sáng tác lời và nhạc Tạ từ.

-Thưa anh - tôi nói - Tạ từ đến với tôi lần đầu tiên qua giọng hát truyền cảm của nữ danh ca Minh Đỗ tại Nhà hát Lớn Hà Nội cuối năm 1949. Tôi sinh năm 1937, lúc đó mới 15 tuổi. Mới 15, nhưng tôi đã bị cuốn hút vào từng lời ca, từng điệu nhạc, nhất là câu kết "Muôn kiếp cô liêu ngàn năm còn reo". Minh Đỗ hát câu này với tất cả sự thiết tha, nồng cháy qua giọng ca trong trẻo và ngân vang của chị. Âm thanh của nhiều loại đàn đệm nổi lên đúng mức lúc ấy, càng làm cho lời ca xoáy sâu vào trái tim tôi. Từ đó Tạ từ cứ vang vọng trong tôi trên những bước đường đời.

Nhạc sĩ Tô Vũ gật đầu mỉm cười. Ông bắt đầu kể...

 

*

Tạ từ nói về một cuộc chia ly, cuộc chia ly của một người bạn tôi, anh Nguyễn Văn Huấn.

Đầu năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bùng nổ được ít lâu, tôi quen nhạc sĩ Lương Ngọc Châu. Lúc đó, anh Châu là nhóm trưởng nhóm nhạc sĩ tự do ngoài biên chế nhà nước chuyên phục vụ quân đội. Lương Ngọc Châu vốn là sinh viên kiến trúc Đại học Mỹ thuật Đông Dương nhưng đã bỏ khoa này, chuyển sang âm nhạc. Anh nhanh chóng trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng và là một trong những người kéo vi-ô-lông hay nhất Hà Nội trước Cách mạng Tháng Tám.

Tôi (tức Tô Vũ) sinh năm 1923. Châu sinh khoảng năm 1919, hơn tôi khoảng bốn tuổi. Vì đã học vi-ô-lông và đàn nguyệt từ nhỏ, cho nên tôi biết rõ danh tiếng Lương Ngọc Châu.

Nhóm nhạc tự do của Châu còn có hai nam thành viên nữa, đó là Ngọc Bích và Nguyễn Văn Huấn. Huấn cũng giỏi về vi-ô-lông. Anh buộc phải bỏ ngành y do phát xít Nhật giải thể một số khoa thuộc Đại học Đông Dương trong đó có Đại học Y khoa. Còn Ngọc Bích thì nổi tiếng về ghi-ta xuynh (guitare swing) từ trước Cách mạng Tháng Tám.

Khoảng cuối năm 1947, tại một huyện thuộc tỉnh Thái Bình (lúc đó, tôi đang công tác ngắn ngày tại huyện này), Lương Ngọc Châu giới thiệu tôi làm quen với Nguyễn Văn Huấn.

Mấy hôm sau, Huấn đưa tôi đến một huyện khác cũng thuộc Thái Bình (hình như huyện Đông Quan thì phải) để thăm Ánh Hà, người bạn gái rất thân của anh.

Ánh Hà là con một ông công chức khá giả người Hà Nội. Cô và bố mẹ cùng các anh chị em trong gia đình tản cư về đây. Ánh Hà là một nữ sinh Hà Nội có sắc đẹp, tính tình hiền dịu, chơi đàn Hạ-uy-di (tức guitare hawaienne) rất giỏi, đồng thời đã từng sáng tác một vài bài hát.

Trong cuộc gặp gỡ thân mật này, người nữ sinh tài hoa ấy đánh Hạ-uy-di cho tôi và Huấn cùng nghe một nhạc phẩm khá hay do cô tự sáng tác cả nhạc lẫn lời. Bài ca nói về nỗi đau của một nữ sinh thủ đô khi cô phải xa hồ Hoàn Kiếm để tản cư về một miền quê hẻo lánh.

Phải nói rằng sắc đẹp của một nữ sinh tiểu tư sản Hà Nội và tâm hồn của cô trong lời và nhạc bài ca do cô sáng tác, vừa dạo đàn vừa hát, đã lập tức gieo vào trái tim tôi một cảm xúc rộn ràng.

Xế chiều hôm ấy, Huấn và tôi chia tay Ánh Hà trong một nỗi nhớ nhung thầm lặng.

Hai chúng tôi cùng đứng lặng nhìn Ánh Hà quay gót trở lại mái tranh nơi cô và bố mẹ cô tạm tản cư về đó. Dáng mảnh mai, dòng tóc chảy dài xuống lưng và hai bờ vai thon thả, bước đi buồn bã của Ánh Hà, tất cả... tất cả khuất dần sau lũy tre xanh trên đường làng, rồi nhanh chóng khuất chìm...

Một tháng sau, Huấn bảo tôi (tức Tô Vũ): Ánh Hà đã theo bố mẹ trở về Hà Nội (lúc đó gọi là "dinh tê" hoặc "về thành") do gia đình cô cạn kiệt về kinh tế. Ánh Hà rủ mình về cùng, nhưng mình không nhận lời. Lúc chia tay, Huấn kể tiếp, Ánh Hà hát tặng mình một bài, cũng do cô sáng tác. Lời và nhạc phẩm này nói về nỗi đau của Hà khi phải xa nơi tản cư và xa mình, người bạn trai thân nhất của Hà, để trở về Hà Nội.

Chần chừ một lát, Huấn tâm sự với tôi, đại ý: vì không có khả năng viết một nhạc phẩm đáp lại bài ca chia ly nói trên của Ánh Hà, cho nên anh nhờ tôi sáng tác một bài ca về cuộc chia ly ấy, sao cho anh có thể kéo được vi-ô-lông.

Tôi nhận lời.

Ngay đêm đó, thức trắng trong gió đông ù ù thổi, dưới mái tranh cô quạnh giữa một làng quê tỉnh lúa Thái Bình, tôi viết xong Tạ từ cả lời lẫn nhạc.

Tạ từ là lời chia tay giữa Huấn với Ánh Hà. Tâm trạng và hoàn cảnh của đôi bạn trong nhạc phẩm tiêu biểu cho tâm trạng và hoàn cảnh nhiều học sinh, sinh viên, thanh niên trí thức tiểu tư sản và tư sản đi kháng chiến chống Pháp hồi ấy.

Câu kết "Muôn kiếp cô liêu ngàn năm còn reo", tôi chịu ảnh hưởng hai câu thơ của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ viết về cây thông:

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

Trong nhạc phẩm còn có câu "Khi về son thắm lồng người, thu cánh tạ mây trời". Câu này có nghĩa là: việc Ánh Hà cùng bố mẹ trở về Hà Nội dưới ách thực dân Pháp khác nào việc chui vào "lồng người", chui vào "lồng son cóng sứ" (tức lồng đẹp nhốt chim quý họa mi), mất hết tự do, chỉ còn biết nhìn ra mây trời để mà nhớ thương, để mà Tạ từ mây trời, Tạ từ người bạn trai thân thiết Nguyễn Văn Huấn còn ở lại với cuộc kháng chiến.

Vì vậy, hai chữ "Tạ từ" được tôi dùng để đặt tên cho nhạc phẩm.

Nhiều ca sĩ không hiểu ý nghĩa hai chữ "lồng người" cho nên đã hát lầm thành "lòng người".

Sáng hôm sau, tôi chuyển bản thảo cho Huấn. Huấn tập khoảng một tiếng, rồi kéo ngay vi-ô-lông cho tôi nghe, với một kỹ thuật điêu luyện, dạt dào cảm xúc. Khi kéo hết bài, mắt ngấn lệ, Huấn buông đàn, lặng im ôm chặt lấy tôi.

Rất đồng cảm với Tạ từ, cả nhạc lẫn lời, Lương Ngọc Châu, Ngọc Bích và Nguyễn Văn Huấn lập tức đi biểu diễn ở nhiều nơi trong tỉnh Thái Bình và mấy tỉnh xung quanh.

Người hát đầu tiên và cũng là người hát hay nhất bài này là Đoàn Minh. Đoàn Minh là nhạc sĩ kiêm ca sĩ nghiệp dư nổi tiếng khắp Hải Phòng với giọng hát cao sang ngay từ mấy năm trước Cách mạng Tháng Tám.

Sau những buổi biểu diễn của Đoàn Minh, Tạ từ nhanh chóng được truyền bá rộng rãi trong vùng kháng chiến và cả vùng địch tạm chiếm.

Văn Cao và Hoàng Quý (anh ruột tôi) đều quen Đoàn Minh từ khoảng những năm 1941, 1942.

Tuy nhiên, Đoàn Tòng, anh ruột Đoàn Minh, hát còn hay hơn Đoàn Minh. Giọng Đoàn Tòng vừa trong suốt, vừa ngân vang, vừa lôi cuốn mãnh liệt người nghe. Nhưng Đoàn Tòng hát ít hơn Đoàn Minh. Em trai ruột Đoàn Minh là Đoàn Thêm hát cũng khá hay. Cả ba anh em đều biểu diễn Tạ từ mấy chục buổi suốt hai năm 1948, 1949.

Để đưa Tạ từ vào đời sống âm nhạc hồi ấy, còn có công của Tử Phác và Tạ Phước.

Mùa thu 1948, tại Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình), hai nhạc sĩ tài năng đó đã chung sức tổ chức biểu diễn Tạ từ lần đầu tiên trong lễ ra mắt Chi hội Văn nghệ Liên khu 3. Liên khu 3 gồm Hải Phòng, Kiến An, Quảng Yên, Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình và Hà Nội. Chi hội Văn nghệ Liên khu 3 gồm một số văn nghệ sĩ bốn ngành văn, họa, nhạc, kịch. Trong chi hội, Tạ Phước được bầu làm trưởng ngành nhạc Liên khu 3, Tử Phác được bầu làm một trong ba người lãnh đạo Việt Minh (tức là một trong ba thành viên chi bộ Đảng) của Chi hội Văn nghệ Liên khu 3.

Đối với tôi và nhiều đồng nghiệp cùng thế hệ, Tử Phác là một tấm gương về lòng trung thành trong bất cứ hoàn cảnh nào đối với Tổ quốc và cách mạng. Bão táp tới tấp dội xuống cuộc đời anh suốt mấy chục mùa xuân. Mặc tất cả những khó khăn to lớn ấy, Tử Phác cứ lặng lẽ và bền bỉ đội bão táp mà tư duy, mà sáng tạo!

 

*

Tác giả Tạ từ chợt ngừng lời, rồi im lặng cúi đầu. Lát sau, ông ngẩng đầu lên, nói khẽ:

-Tử Phác, Tử Phác, Tử Phác, cảm ơn anh, cám ơn vạn bội về những gì anh đã góp phần cùng Tạ Phước, Đoàn Minh, Lương Ngọc Châu, Ngọc Bích, Nguyễn Văn Huấn và các đồng nghiệp khác đưa Tạ từ vào tâm hồn và trái tim biết bao học sinh, sinh viên, thanh niên trí thức tiểu tư sản và tư sản trong lửa đạn cuộc kháng chiến chống Pháp ngày ấy.

Giọng nồng nàn và ấm áp, Tô Vũ khe khẽ hát: "Muôn kiếp cô liêu ngàn năm còn reo". Sau đó, nhìn vào không gian phía trước, nhạc sĩ nghẹn ngào:

-Xin ngàn lần cảm ơn Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ. Không có Người, tôi không thể viết nổi câu hát vừa rồi. "Khi về son thắm lồng người, thu cánh tạ mây trời"... Tạ từ chính là lời tạ từ của đông đảo học sinh, sinh viên, thanh niên trí thức tiểu tư sản và tư sản quyết tâm ở lại với kháng chiến, trong giờ phút chia ly với một số ít bạn trẻ vì hoàn cảnh gia đình phải rời kháng chiến để trở về thành phố, tạm sống dưới gót sắt thực dân Pháp.

Tạ từ là một cuộc chia ly như thế...

Sáng tác: Tô Vũ

Ca sĩ Thu Hà

Ý kiến bạn đọc

Hanya Ta
Bài viết rất cảm động. Vài lời viết tạ từ với nhạc sĩ Tử Phác khiến hiểu thêm xúc động của Nhạc sĩ Tô Vũ. Tôi có dịp được gặp Ông Tử Phác trước lúc Ông mất, người tài hoa ấy cuối đời sống một cuộc sống ẩn dật và thanh đạm...

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Các bài viết khác