Trang chủ | Thứ bảy, 19/08/2017 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 13987123
Trang chủ » Chuyện nhạc

THEO DÒNG ĐỜI FRANZ LISZT (10) (Trích sách cùng tên)

Thứ năm, 12/07/2012

Roland de Candé (Trịnh Thị Nhàn dịch)

(Tiếp theo)

(1835 -1836)

Liszt nhanh chóng bắt tay vào công việc sáng tác. Mùa xuân 1836, anh viết cho Geoge Sand:

“Từ 6 tháng nay tôi chỉ có viết, viết và viết những nốt nhạc với mọi sắc màu và mọi kiểu. Những tác phẩm mới này hầu như dành cho piano gồm các hình thức khác nhau như FantaisiesReminiscences trên mô hình của Rossini, Pacini, Donizetti, Meyerber, một sonate (đã mất), một chuyển biến cho piano theo Harold en italie của Berlioz và rất nhiều tiểu phẩm trong tập Album dun voyageur gồm ba phần: I - impressions et poesies; II - Fleurs melodique des Alpes; III - Paraphares. (I-Ấn tượng và thi ca, II-Hoa giai điệu trên núi Alpes, III-chú giải)”.

Liszt đã phát hiện ra thể loại nhạc folklore rất sống động. Anh ghi lại giai điệu và nhịp điệu, giữ một vị trí như một người mở đường cho loại âm nhạc dân tộc. Liszt nghiên cứu và khai thác những phát hiện riêng của mình trong những sáng tác mới. Điều này được kể đến trong 9 bản Fleurs melodies des Alpes, tập hai của Album dun voyageur, chúng đều mang chất dân gian Thuỵ sĩ. Trên 19 tiểu phẩm hình thành trên một tuyển tập thơ thì 14 hoặc 15 đã hoàn thành tại Geneve. Chúng đều là những kỉ niệm của chuyến công du Thuỵ sĩ bao gồm một style rất lãng mạn và với một đỉnh cao của kĩ thuật piano. Toàn bộ ba phần này sẽ ra mắt năm 1842 tại xuất bản Haslinger ở Vienne. Năm bài trong tập đầu và hai bài ở tập hai sẽ được liên kết với nhau giữa năm 1848 và 1854 để làm nên bộ Những năm hành hương. Chúng tạo nên hình thức chính của Năm thứ nhất: Thuỵ sĩ.

Trong thời gian này, Liszt dành phần lớn những sáng tác cho piano vào chương trình concert riêng của anh giống như các bậc tiền bối cho đến thời Beethoven và dĩ nhiên cả những tác phẩm như Réminisceces hay Fantaisie là những tác phẩm chuyển biên cho piano cực kì khó chơi so với các tác phẩm chuyển biên khác nhằm mục đích để dễ dàng phổ biến những tác phẩm điển hình mà với giới nghiệp dư họ không có dịp nào nghe ngoài các concert của Liszt. Ngược lại, những tác phẩm mô tả trong tập Album dun voyageur hay các loại bài kĩ thuật như Etude thì được ra mắt ngay từ bản gốc.

 

Đầu năm 1836, ở Paris tiếng vang về một pianiste trẻ người Áo tên là Sigismond Thalberg, theo như lời đồn đại là một thiên tài có kĩ thuật siêu đẳng đã làm Franz phải suy nghĩ. Cậu pianiste người Áo này đang là nổi tiếng nhất và được hâm mộ nhất ở Paris đến nỗi làm lu mờ Liszt! Franz viết cho mẹ anh một bức thư (bằng tiếng Pháp, tất nhiên) với một kiểu nói lấp lửng:

“Con muốn biết về pianiste Thalberg. Những lời khen tặng cậu ta mà con đã được đọc trên báo chí rất nhiều đủ mọi kiểu. Điều này với con chẳng có gì phải bận lòng nhưng mẹ hãy viết cho con, có đúng thật cậu ta đã gửi một vé concert của cậu ta cho mẹ mặc dù cậu ta không biết mẹ như người ta đã nói với con vậy không, mẹ nhé”.

Liệu có thật là nguy hiểm không khi cứ làm ngơ cho đối thủ của anh đang đi đến chiếm vị trí độc tôn của anh, mặc dù cũng cần xem lại trí thông minh âm nhạc của con người này. Theo nhận xét của một pianiste tên là Charles Hallé ở Paris: “Thalberg tạo ra một ấn  tượng mạnh cho người nghe tại Paris và trở nên thần tượng của công chúng. Điều chính yếu có thể là khi nghe Thalberg người ta có thể đoán trước được và thậm chí còn có thể bắt chước chứ không thể có chuyện này với Liszt hay Chopin”.

Lại nữa, Thalberg đã là một pianiste có kĩ thuật nhiều hơn là có cá tính. Ngược lại, nếu câu chuyện về cái vé concert được gửi đến cho bà Anna Liszt là có thật thì chứng tỏ cậu này là người biết quan tâm đến công chúng của mình.

Cuộc chạy đua của Thalberg kích thích lòng hăng hái tập luyện piano của Franz vốn đã có một tiếng tăm vốn xây dựng trên một huyền thoại hơn là trên một sự nghiệp. Nó bao gồm tất cả những nguyên do kín đáo: từ khi cha mất, những cuộc biểu diễn trước đám đông của anh ngày một trở nên hiếm hoi. Ngoài ra Franz đâu có ngờ đến là ngoài phải nuôi thân, nuôi mẹ thì giờ đây anh còn phải nuôi cả Marie và con gái mình nữa! Piano là nguồn thu nhập chính của anh.Vốn liếng Marie mang theo mang bắt đầu kiệt quệ theo lối sống xa hoa của họ trong xã hội, vả lại nàng cũng không thể chuẩn y toàn bộ tài sản của nàng nếu như không được phép của người chồng cũ, sợ ông sẽ tự phụ với sự xin xỏ của họ trong hoàn cảnh phải cần đến tiền. Vì thế, Listz quyết định lại ra mắt công chúng ở Pháp, bắt đầu từ ở Lyon. Trước đây anh làm một concert ở casino tại Genève với Hermann Cohen và một giáo sư nhạc viện trong một salle chỉ có 1/2 người nghe.

Đến Lyon ngày 22/4 ở hôtel Milan, place Terreaux, Franz có ngay một số quan hệ. Anh cám ơn người hoạ sĩ tên là Nancy Mérienne, người đã vẽ chân dung anh lần đầu tiên với mớ tóc dài, một kiểu tóc từ nay anh rất thích, anh làm 3 concert ở Lyon vào 2,5,7 tháng 5. Chỉ có buổi cuối cùng thực sự mang lại thành công như anh mong đợi. Còn Marie ở lại Genève, Franz viết cho nàng những dòng thơ đắm đuối: “Hãy đặt tay em trong tay anh đi, hãy vuốt ve lồng ngực anh bằng mái tóc tuyệt vời vàng óng của em nào”.

Anh ngần ngại tiếp xúc với công chúng ở Paris. Anh viết cho: “Anh cảm thấy, anh biết rằng nếu có đi nghe Thalberg thì anh quan tâm đến thái độ người nghe hơn là người diễn”.

13/5 Liszt về Paris gặp lại mẹ cùng các bạn bè như Berlioz, Ballanche, Meyerbeer, Musset, Vigny, Delacroix, Chopin. Chopin rất bực bội khi phải nghe người ta so sánh Liszt với Thalberg! Sự đối địch không xảy ra ở lần này, Thaberg đã ra đi. Franz muốn chí ít, các bạn bè còn không quên anh là ai. Anh diễn một concerts ở sale Pleyel ngay sau khi vừa tới Paris, rồi một concerts thứ hai nhà Erard. Anh chơi sonate op 106 của Beethoven để chứng tỏ sự táo bạo của mình bởi lúc đó những sonate cuối cùng của Beethoven rất ít được biết đến ở Paris. Berlioz đã phải chủ động khích lệ trên tờ  Tạp chí âm nhạc ngày 12/6:

“Một pianiste cần phải được trang bị cho mình nguồn dự trữ phong phú về thể loại tác phẩm, nhất là những tác phẩm mới còn ít người biết để làm giàu thêm vốn chương trình của mình. Thế mới đúng là trường phái pianiste tiên phong. Tôi xin đưa ra ở đây ý kiến của riêng tôi cũng như của những người vừa được nghe Liszt chơi bản sonate đồ sộ ấy của Beethoven, thật là một tập thơ tuyệt diệu gần như viết cho piano độc tôn mà cho đến nay vẫn còn ít người biết đến tựa như bí mật của tượng nhân sư... Không một nốt nào bị bỏ sót, không một nốt nào thừa (tôi có theo dõi cẩn thận với bản nhạc trong tay), không có một chi tiết nào không được làm đúng theo chỉ dẫn của tác giả, không một sự thiếu cân nhắc, không một sự hồ đồ nào. Thật lí tưởng khi diễn một tác phẩm quan trọng và khó đến như vậy. Liszt, trong khi dám chơi xuất sắc như thế một tác phẩm hãy còn chưa được phổ cập, chứng tỏ anh đã thuộc về lớp pianiste của thế hệ tương lai, thật vinh dự thay!”.

Bài bình luận bác bỏ thẳng thừng những lời chê trách rằng Liszt hay bịa và tự thêm thắt tuỳ tiện những tác phẩm mà anh chơi. Tay anh rất dài, kĩ thuật lại cực kì điêu luyện và rất có thiên bẩm về diễn tấu nên anh có thể chơi bất cứ cái gì anh muốn! Điều này có người cho là anh đã lạm dụng để trộ các đám cử toạ nông cạn phù phiếm thôi. Nhưng Liszt đã là người hoàn toàn có thể chơi rất nghiêm túc những tác phẩm mà anh yêu thích. Rất nhiều người chứng kíên lối chơi của anh và phải sửng sốt trước lối đánh làm tách riêng bè trong các đoạn thật nhanh và phức tạp, đảm bảo mọi nốt đều vang rõ nét. Anh đã nói với các học sinh: “bàn tay cần ở trên không nhiều hơn là ở trên phím đàn!”

 Năm 1836 chính Liszt là người đã sáng tạo ra hình thức Récital (độc tấu) cho piano. Trong đó anh biểu diễn và phô bày tất cả ngón chơi mà gọi là tự mình độc thoại trên cây đàn piano. Đắm chìm trong đời sống bận rộn ở Paris với những concert, những bữa tối, viếng thăm, hoạt động âm nhạc, Franz gửi cho Marie những là thư dài và say mê: “Anh muốn nhìn em, anh nhớ em vô cùng, thèm được chiêm ngưỡng em, nằm hàng giờ dưới chân em”.

Còn Marie, nàng đang ở thời kì nhung nhớ, cô đơn, tuyệt vọng. Những thư trả lời của nàng mang một chút vẻ thoái thác lưỡng lự. Nàng cho anh mình là Maurice biết Liszt đang ở Paris, nàng hy vọng hai người sẽ đi đến một giải pháp nào đấy. Đó cũng là một trong những mục đích của chuyến đi theo ý nàng mong. Franz tiếp Maurice de Flavigny và sau đó, Maurice gửi cho em gái một bức thư đầy tình cảm. Trong chuyện này, thái độ của gia đình Flavigny rất đúng mực. Nhất là người chồng của Marie, ông Charles D’Agoult, đã có một sự hào hiệp rất đáng khâm phục.

Franz đi Genève ngày 3/6. Cặp tình nhân đến Monnetier - sur - Salève, gần Genève tại nhà trọ Aux Armoiries de Geneve. Marie bị lôi cuốn ngay bởi vẻ mộc mạc của một tổ ấm tình yêu nhìn  xuống hồ Léman và ngọn núi Mon Blanc. Liszt cần sự yên tĩnh để viết. George Sand, mới gặp Liszt hai lần, đã viết thư động viên: “Bạn muốn viết, chính thế, hãy viết đi. Bạn còn trẻ thông minh, nhìn nhận còn trong sáng, hãy viết nhanh đi, trước khi đầu  óc bị bận rộn. Bởi khi bạn đã suy nghĩ đến quá nhiều vấn đề, bạn sẽ không còn cảm nhận điều gì đặc biệt nữa và lúc ấy chỉ là viết theo thói quen thôi. Hãy viết trong khi bạn  được Chúa  mách bảo chứ không phải một trí nhớ  mách bảo. Tôi biết là bạn sẽ thành công lớn”.

Sự khuyến khích này thật hào hiệp và thông minh, trả lời cho Liszt đang lo lắng về sự chán nản của Marie.

Đầu tháng tám, George  Sand vừa li dị xong đã báo tin là sẽ đến Genève để gặp Liszt và Marie. Họ dự tính cùng đi một chuyến núi Alpes. Cuộc hội ngộ thật vui và náo nhiệt. George đã kể lại hôm đến hôtel trong Lettre dun voyageur:

“Tôi vội vã đi đến buồng số 13. Trong góc cửa, một mũ choàng kiểu Anh nhô ra cái đầu tóc vàng của Arabella (tức Marie). Trong khi tôi lao đến nàng thì Franz chạy đến bá cổ tôi. Puzzi thì reo lên kinh ngạc: chúng tôi làm thành những đôi ôm nhau hôn hít và không thể rời nhau. Cô hầu phòng, kinh ngạc nhìn một cậu thanh niên với đôi ủng lấm bùn (chính là Sand), mà họ cứ ngỡ là một anh dô kề, chạy lại ôm hôn một bà Arabella quá đẹp, đánh rơi cả cây nến cầm tay, rồi cả bọn toả đi khắp gian nhà có buồng 13 đang đầy một đám người kì lạ, không thể phân biệt nổi ai, tóc tai man rợ, không biết được ai là đàn ông, ai là đàn bà, ai là hầu phòng, ai là chủ nhân.

Vừa đến nơi, Franz đã cho gọi ông Fellows để viết các tấm phiếu khai theo kiểu thật nghịch ngợm và bông lơn:

Tư cách: nhạc sĩ, nhà triết học

Nơi ở: thi đàn

Đến từ: nghi ngờ

Để đi tới: sự thật

Còn George Sand cũng bắt chước khai là “gia đình Piffoel” nhưng vì miệng thì ngậm xì gà lại mặc quần đàn ông nên cô đề luôn cho mình là ông Piffoel:

Nhà ở: Thiên nhiên

Đến từ: Chúa             Nơi sinh: châu Âu

Đi tới: Trời

Ngày khai: thường xuyên            Tư cách: người rong chơi

Nơi cấp: dư luận nhân dân

Còn Adolphe Pictet trong bộ quân phục pháo binh, đã kể rằng người của hôtel vội đi mời ngay cảnh sát đến để can thiệp bởi “có một gia đình Tzigane với tóc tai để dài gớm ghiếc trong các áo dài kì cục, đang làm trò phù thuỷ điạ ngục gì đó trên lầu”. Ta có thể hình dung sự kinh ngạc của những  người chủ hôtel và các khách của họ (phần lớn là người Anh) khi họ vỡ lẽ ra ông Piffoel là một phụ nữ mặc đồ đàn ông và hút xì gà, còn Puzzi có vẻ hệt một cô gái thì lại là một thanh niên hẳn hoi, và Solange trông như con trai thì lại là một cô gái...

Họ từ chối mọi lời bình phẩm ngay cả khi George Sand đổ cả một chậu nước qua cửa sổ xuống đầu khách người Anh!

Nữ bá tước D’Agoult không mấy ưa trò con trẻ này và nàng không tham gia. Nàng nhạy cảm với sự ân cần và mến mộ của George. Còn George bị chinh phục bởi nhan sắc của Marie cũng như sự thông minh và tế nhị ở nàng. Cả hai cùng mến mộ nhau một cách chân tình. Marie đã khiến mọi người đều nghĩ nàng rất cao thượng. Cả hai hình như rất dễ thân mật trong khi họ chỉ mới quen nhau. Marie là người khởi đầu mời George ngày 24/9/1835, tuy vẫn phù phiếm và có phần thận trọng song George đã lập tức trả lời:

“Nữ bá tước tóc vàng xinh đẹp của tôi. Tôi không được quen biết bà nhưng Franz đã nói với tôi về bà và tôi đã được chiêm ngưỡng bà. Tôi tin rằng, sau những điều đó tôi có thể nói một cách không hề điên rồ, không hề quá giới hạn quen thuộc rằng tôi yêu quý bà, rằng với tôi, bà thật đáng yêu, thật đẹp và thực là quý phái trong giới quý tộc mà tôi được biết”.

Trong Lettre dun voyageur tập bẩy để gửi cho Liszt mà George Sand cho ra mắt vào tháng 9/1835 có viết:

“Anh có nhớ không cái nàng Péri tóc vàng trong  bộ áo mầu xanh da trời đáng yêu và quý phái làm sao. Nàng như từ trên trời đi xuống cái căn gác xép của  nhà thơ và nàng đã ngồi giữa hai ta như một nàng công chúa tuyệt diệu xuất hiện giữa đám nghệ sĩ nghèo chúng mình trong một chuyện kể thần tiên của H Jofmann”.

Ngày 15/5 cô viết cho Franz: “Rôi tin rằng bạn co một kho báu trong M. hãy giữ lấy nó bởi ý Chúa đã muốn thế”.

Với cây gậy chăn cừu của Pictet, cả nhóm đi chơi cưỡi trên lưng những con la và chuyện trò về triết học và văn chương, George luôn luôn sợ những gì là thông thái rởm như sợ một cơn dịch hạch, đã chơi trò phản bác lại trong các câu chuyện được nuôi dưỡng bằng tinh thần uyên bác của  Pictet. Còn Franz thì bù trừ những lỗ hổng của anh về lĩnh vực ngôn từ tiếng Đức và tiếng Anh. Họ đi lang thang đến tận giải đất trong thung lũng Rhône. Sau đó cả bọ rời đến Fribourg, nơi Liszt viết một ứng tác trên chủ đề Dies Irae của Requiem Mozart cho đàn orgue tại nhà thờ Saint - Nicolas.

Trở về Genève, gia đình Fellow và Pifoel lại thường xuyên gặp gỡ nhau tại các salon, các buổi hoà nhạc, nhà hát. Trước khi chia tay, họ cùng đi nghe một concert của Hermann Cohen tại casino. Vì thành phần văn hoá cao của đám thình giả đặc biệt này đã gây lòng hăng hái cho các tờ báo hơn là do tài năng thực của người biểu diễn là Puzzi! Một tối khác, Liszt chơi trong khung cảnh thân mật bản Rondo Fantastique mà anh vừa sáng tác tặng George Sand khiến Marie ghen. Đêm tiếp theo, George viết lời chú thích cho bài sáng tác của Liszt trên một chuyện kể trữ tình Le Contrebandier (Kẻ buôn lậu).

Sau một concert để vĩnh biệt salle Saint Pierre, trong đó Liszt chơi hai tác phẩm solo và thêm một tam tấu Archiduc của Beethoven, Franz và Marie rời Genève. Họ bỏ ý định sẽ ở đây luôn: Marie lo cho hoàn cảnh gia đình và xã hội quý tộc của nàng. Franz lo cho nghề nghiệp và Paris đang vắng bóng họ. Cả hai cùng quyết định cứ tạm thời để cô bé Blandine tại nhà người vú nuôi để khỏi phiền hà đến cuộc sống mới của họ. Liszt sợ gánh nặng phiền nhiễu của một đứa bé mới 10 tháng, rồi kèm theo những khó khăn khó mà dự liệu nổi.

Đến Paris ngày 16/10/1836, Franz và Marie thuê một căn hộ ở hôtel de France, phố Lafitte. Một tuần sau, George Sand cũng đến với họ. Cô ở một gác lửng cùng hôtel và cùng chung một salon với Fellows. Marie lo sẽ gặp gỡ những người có thể khiến nàng quay về, nhưng nàng yên tâm phần nào vì cái salon của nàng và George Sand ngày càng tụ họp đông đủ giới nghệ sĩ như Lamennais, Heine, Meyerber, Rossini, Berlioz, Eugene Sue, Mickewicz, Hugo.. và tất nhiên cả công nương Belgiojoso. Chopin còn mất một thời gian dài mới quyết định đến vì anh luôn luôn sợ những cạm bẫy của giới xa hoa. Anh từ chối trước hết những người khách mời của Franz, lấy lí do không thích các nữ sĩ rởm, các bas - bleus. Những bas - bleus này, khi ấy lại có tác động có ích cho Liszt nhất là Marie.

Liszt đã hứa với Berlioz tham gia một concert ngày 18/12 tại salle nhạc viện vì lời hứa này mà anh quay vội về Paris. Anh diễn ở đó với thành công như mong đợi bản Fantaisie trên chủ đề Lélio và hai chương do anh chuyển biên sang piano từ bản Giao hưởng kì diệu của Berlioz. Vài ngày trước đấy, Chopin đã mời Liszt và Marie đến dự một tối hoà nhạc tại nhà mình. Họ rủ cả George Sand đi cùng. Cô bận một bộ đàn ông  Thổ nhĩ kì và im lặng ngồi nghe Chopin đàn.

“Cô Sand nào mà trông khó gần thế?” - Chopin đã rỉ tai Hiller như vậy.

(Còn nữa)

 

 

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác