Trang chủ | Thứ năm, 16/08/2018 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 14580637
Trang chủ » Đĩa nhạc

ÂM NHẠC DÂN GIAN VIỆT NAM CD1

Thứ hai, 09/07/2012

Việt Nam là mảnh đất sinh sống của cộng đồng 54 dân tộc anh em. Sự đa dạng về dân tộc, về địa hình cư trú đã giúp cho kho tàng âm nhạc dân gian Việt Nam hết sức phong phú. Đĩa  m nhạc dân gian 1, sẽ gửi đến quý khán giả một số tiết mục dân ca, dân nhạc đặc sắc trong kho tàng âm nhạc dân gian đó.

1. Thi nhịp
Biểu diễn: Dàn nhạc nhà hát Chèo TW
Thuở xưa, trong các buổi diễn chèo ở làng quê Việt Nam, trước khi vào đêm diễn, bộ gõ đánh thi nhịp nhằm tập trung sự chú ý của khán giả vào chiếu diễn và cũng để khởi động tay. Nghệ thuật thi nhịp là sự đối thoại của các nhạc cụ gõ như trống đế, trống cơm, trống cái, mõ, thanh la. Với tiết tấu nhanh, sôi động các nhạc cụ gõ thật sự gây không khí tưng bừng mở đầu đêm diễn.

2. Hát Quan họ Bắc Ninh - Dân ca đồng bằng Bắc bộ
Bài: Tay nâng cái cơi đựng trầu
Biểu diễn: Minh Phúc - Lệ Ngải

Quan Họ là sản phẩm vǎn hoá nghệ thuật đặc sắc của vùng Kinh Bắc- một mảnh đất có ngàn nǎm vǎn hiến với nhiều đỉnh cao nghệ thuật rực rỡ. Quan Họ bao giờ cũng được hát đôi, đôi nam hát đối với đôi nữ và không có nhạc cụ đệm. Sinh hoạt Quan Họ có tục kết nghĩa giữa trai làng nọ với gái làng kia. Họ hát đôi với nhau những không được yêu nhau, không được kết duyên vợ chồng. Quan Họ diễn ra theo một trình tự đủ các chặng: Lề lối, Giọng vặt và Giã bạn. Hát Quan Họ đòi hỏi một trình độ khá cao với nhiều kỹ thuật như vang, rền, nền, nảy, ngắt, rớt. Bài “Tay nâng cái cơi đựng trầu” là một trong những bài hát mở đầu chặng giọng vặt để mời nước, mở trầu.

3. Hoà tấu cồng Mường

Bài: Cồng đánh lúc đi đường
Biểu diễn: nhóm nghệ nhân Mường

Cồng là một trong những nhạc cụ cổ xưa nhất của người Mường tỉnh Hòa Bình ở miền núi phía Bắc Việt Nam. Bộ cồng Mường thường có từ 6 tới 12 chiếc cồng có núm bao gồm: một đôi chiêng Bòng beng, một đôi chiêng Đủm, một tổ chiêng Khộ và một chiêng Dàm. Trong đó, đôi chiêng Bòng beng và đôi chiêng Đủm đi giai điệu, một tổ chiêng Khộ đi tổ âm ở đầu phách, còn chiêng Dàm giữ trách nhiệm đi bè trì tục. Bài cồng “Đi đường” là một trong những bài cổ truyền diễn ra trong sinh hoạt sắc bùa vào dịp đầu nǎm khi đoàn cồng đi du xuân đến từng nhà chúc Tết.

4. Hát Hà lều - Dân ca Nùng
Bài: Quê tôi
Biểu diễn: Hoàng thị Sùi - Nông thị Ngần
Hát Hà lều là lối hát giao duyên hết sức độc đáo của người Nùng Cao Bằng ở miền núi phía Bắc Việt Nam. Người Nùng thường hát Hà lều trên đường đi, trong mỗi phiên chợ hay những ngày hội của bản làng. Hà lều là lối hát đối đáp nam nữ, mỗi bên phải có ít nhất hai nam hoặc hai nữ để hát hai giọng. Câu hát Hà lều ca ngợi quê hương, ca ngợi tình yêu đôi lứa và là nhịp cầu để biết bao chàng trai cô gái nên duyên vợ chồng.

5. Hát Kưứt - Dân ca Ê đê
Bài: M’ni moǎn tơ zang
Biểu diễn: Y Tuich Niê

Hát Kưứt là một thể loại hát nói rất phổ biến trong dân ca của người Êđê (dân tộc cư trú tại Tây Nguyên - miền Trung Việt Nam). Đây là lối hát kể chuyện trường ca cho con cháu nghe vào những buổi tối thư nhàn, những đêm trǎng sáng. Nhạc cụ đệm là Đinh buốt trók - sáo thổi dọc có 4 lỗ bấm và 1 lỗ thoát hơi ở cạnh đầu thổi. Hàng âm của sáo là: f1, g#1, a#1, c2, d#2.

6. Hoà tấu chinh Honh Bahnar
Bài: Prưh
Biểu diễn: Nhóm nghệ nhân Bahnar

Cũng giống như dân tộc Êđê - người láng giềng cùng định cư trên dải đất Tây Nguyên, đối với người Bahnar một tài sản tinh thần vô giá, chứa đựng cả sức mạnh, cả những gì linh thiêng nhất của dân tộc chính là dàn chiêng Honh. Bài chiêng “Prưh” thường được đánh vào lễ lấp mả - một nghi lễ quan trọng của người Bahnar khi phải chia tay vĩnh viễn với người đã khuất. Bài chiêng này do nhóm nghệ nhân Bahnar ở Pleidecốp, huyện Mǎng Giang, tỉnh Gialai diễn tấu. Dàn chiêng gồm có 5 chiêng có núm (theo thứ tự từ lớn đến bé) gồm: Gluh, Chil, Pêti, Pết Moông, Pết Moông Sơ Alam; 6 chiêng bằng (theo thứ tự từ lớn đến bé) gồm: Djơng, Moông, T’reh, Pơgléh, Moông Sơ Alam, Driéh và 2 trống: Sgơr và Sgriéh. Hàng âm của chiêng là: C (già), G, c (già), f (già), g (già), f1, g1, a1 (già), h1 (già), c2 (già), f2. Dùi để đánh cho chiêng có núm một đầu được bọc vải, còn dùi đánh cho chiêng bằng là những mẩu tre đực già, đánh vào mặt trong của chiêng.

7. Hát đám cưới - Dân ca Khơme Nam bộ
Bài: Bok Weng Non
Biểu diễn: Kim Sao Sis

Khơme là một trong ít những dân tộc sống trên đất nước Việt Nam cho đến ngày nay còn giữ được diễn xướng âm nhạc trong các nghi thức của đám cưới. Dàn nhạc đệm cho đám cưới là dàn nhạc dân gian - Plêng K’sai bao gồm: Sáo Khloi (sáo thổi dọc có 6 lỗ bấm), Trúa u (nhạc cụ dây chi cung kéo, bầu bằng gáo dừa, có 2 dây), Trúa sô (nhạc cụ dây chi cung kéo, bầu bằng gỗ, có 2 dây), đàn Khưm (nhạc cụ dây chi gõ, có 20 dây) và trống Scor Khơme (trống vỗ 1 mặt). Bài hát thường do ông mai (Ple) diễn xướng theo trình tự của nghi lễ. Bài “Bok Weng Non” được hát trong lễ cột chỉ cổ tay. Ông mai vừa hát vừa múa để mời hai bên cha mẹ ra buộc chỉ đỏ vào cổ tay cho cô dâu và chú rể thay cho lời thề thủy chung và lời chúc hạnh phúc dài lâu.

8. Hát lễ - Dân ca Chǎm
Bài: Pô Tang Hó
Biểu diễn: Nhóm nghệ nhân Chǎm Ninh Thuận

Dân tộc Chǎm vốn quần tụ tại duyên hải miền Trung Việt Nam từ rất lâu đời. Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên cho tới thế kỷ XVII, người Chǎm đã từng xây dựng nên vương quốc Chǎm pa với nền vǎn hoá Sa Huỳnh rực rỡ, ảnh hưởng của vǎn hoá ấn Độ. Người Chǎm theo đạo Hồi. Trong các bản làng Chǎm lễ hội diễn ra quanh nǎm và không lúc nào thiếu vắng âm nhạc. Đối với kho tàng âm nhạc của người Chǎm thậm chí âm nhạc nghi lễ tín ngưỡng chiếm một phần lớn, vượt trội hơn rất nhiều so với âm nhạc đời thường. Bài Pô Tang Hó là bài hát trong lễ hội Richà Nưcành (Múa mừng đầu nǎm) để ca ngợi vị thần Pô Tang Hó. Dàn nhạc đệm cho hát gồm có: kèn Xaranai (nhạc cụ họ hơi, dǎm kép, có 7 lỗ bấm trên, 1 lỗ bấm dưới), đàn Kanhi (nhạc cụ dây chi cung kéo, bầu đàn làm bằng mu rùa, có 2 dây), trống Paranưng (trống vỗ 1 mặt), cặp trống Ghì nằng (trống 2 mặt, mặt trên vỗ, mặt dưới đánh bằng dùi), chiêng Prông (chiêng có núm) và chiêng Sit (chiêng có núm). Bài “Pô Tang Hó” là bài giàu nhạc và múa nên người Chǎm thường giới thiệu bài hát lễ này để phô diễn tinh hoa nghệ thuật của dân tộc mình.

9. Hát ả đào
Biểu diễn: Nguyễn Thuý Hòa
Hát ả đào là một trong những hình thức ca hát thính phòng độc đáo của người Việt miền Bắc. Hát ả đào đạt tới tính chuyên nghiệp, tính bác học cao, chuyển tải được nhiều áng thơ bất hủ của các Nho sĩ. Hát ả đào có ba hình thức sinh hoạt chính đó là hát thờ thần ở đền, đình, hát thi ở đình và hát chơi ở trong các nhà quan, ca quán. Dàn nhạc đệm cho hát ả đào gồm cỗ phách ba lá do ả đào vừa hát vừa tự gõ, đàn đáy và trống chầu. Sự hoà tấu đan quyện giữa giai điệu uyển chuyển của giọng hát trên nền trầm đục của tiếng đàn đáy cùng các khổ phách róc ròn khô và thi thoảng là tiếng tom chát chấm câu của trống chầu đã làm nên sự tuyệt vời cho nghệ thuật hát ả đào.

10. Hát chèo
Bài: Quá giang
Biểu diễn: Minh Huệ

Chèo là một hình thức âm nhạc sân khấu, một sản phẩm nghệ thuật đặc sắc của người Việt ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ Việt Nam. Bắt nguồn từ hình thức trò diễn nghệ thuật, sân khấu chèo mang đậm tính chất bi hài kết hợp với tính tự sự và tính ước lệ, cách điệu. Dàn nhạc Chèo nổi bật lên với vai trò chủ đạo của bộ gõ mà tiêu biểu là trống đế kết hợp với giai điệu đệm tòng của các nhạc cụ định âm như nhị, hồ, tiêu, sáo. Mỗi làn điệu chèo đều có sự hoàn chỉnh, độc lập như một ca khúc và thường gắn liền với một nhân vật cụ thể. Bài “Quá giang” dùng cho nhân vật Xuý Vân khi giả điên trong vở chèo Xuý Vân giả dại.

11. Hòa tấu Chinh Knǎh - Dàn nhạc Êđê
Bài: Iô Wit H’gum
Biểu diễn: Nhóm nghệ nhân Êđê- Đaklak
Knǎh là tên bộ chiêng của người Êđê. Người Êđê diễn tấu chiêng trong nhà dài, ngồi trên ghế Kpan (hình con thuyền, dài từ 10 tới 20m đặt bên hông tây nhà sàn). Bài Iô wit H’gum là bài ngày trước tù trưởng thường gọi dân làng, các thị tộc về khi buôn có việc. Ngày nay, người ta đánh bài này dùng để mở đầu các lễ hội. Bài chiêng này do nhóm nghệ nhân buôn K’siên, Buôn Ma Thuột, Đaklak trình diễn. Dàn chiêng Knǎh ở đây gồm có 1 chiếc chiêng có núm là M’Đũ; 6 chiếc chiêng bằng (theo thứ tự từ lớn đến bé) gồm: Knǎh Di, Knǎh Hliang, Knǎh Khơk, Hluê Khơk, Hluê Hliang, Hluê Khơk Điết và trống cái H’Gơr. Hàng âm của dàn chiêng là: F# (già), a#, h#, d#1, f1, g1, a#1. Dùi đánh cho chiêng có núm M’Đũ một đầu được bọc bằng bộ phận sinh dục của con trâu hay con bò đực bởi tính đàn hồi cao. Dùi chiêng bằng được làm gỗ hoặc tre đực già, đánh vào mặt trong của chiêng. Sự đối thoại, sự va đập của các nhóm tiết tấu khác nhau với lực độ mạnh mẽ, dồn dập đã tạo nên nét độc đáo riêng cho dàn chiêng Knǎk cũng như minh chứng cho nǎng khiếu âm nhạc đặc biệt của người Êđê.

12. Hát ayray - Dân ca Êđê
Bài: M’mâu

Biểu diễn: H’Pớt Niê
Hát Ayray là một hình thức hát dân ca giao duyên của người Êđê. Hát Ayray thường được đệm bằng Đinh nǎm. Đinh nǎm là nhạc cụ kiêng kỵ dành cho nam giới. Đinh nǎm được làm từ 6 ống nứa dài ngắn khác nhau cắm xuyên qua vỏ quả bầu khô, tại mỗi ống phần đi qua quả bầu đều được gắn một lưỡi gà bằng tre hoặc bằng đồng. Hàng âm của Đinh nǎm là G#, A#, c1, d#1, f1, g1. Cũng như Đinh nǎm, hát Ayray bị luật tục qui định không được hát trong buôn làng vào ngày thường mà chỉ được hát trên đường lên nương rẫy, hát trong lễ bỏ mả. Hát giao duyên Ayray tượng trưng cho sự sinh sôi, sự đầu thai của người chết sau 7 vòng biến hoá sẽ nhập vào đứa trẻ sơ sinh để trở về với cộng đồng. Hát Ayray mang âm hưởng khoẻ khoắn của những chàng trai cô gái sống giữa núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ.

13. Độc tấu Khèn - Dân nhạc Thái
Bài: Tiếng khèn đêm trǎng
Biểu diễn: Cầm Ngọc Long

Thái là một trong những dân tộc sống ở miền núi phía Bắc Việt Nam sở hữu nhiều loại nhạc cụ từ tre nứa. Cây khèn của người Thái gồm 14 ống nứa tép được ghép thành hai hàng, mỗi ống gắn một lưỡi gà bằng đồng. Hàng âm của khèn: G, A, c1, d1, e1, f1, g1, a1, c2, d2, e2, f2. Là nhạc cụ họ hơi chi lưỡi gà rung tự do, có thể nói, khèn bè là dạng phát triển cao trong các nhạc cụ họ hơi của người Thái. Khèn được đệm cho hát, chơi các bài nhạc múa và đặc biệt được sử dụng trong các sinh hoạt giao duyên. Bài “Tiếng khèn đêm trǎng” là bài khèn gọi bạn, gọi người yêu của các chàng trai Thái ở dưới chân nhà sàn vào những đêm trǎng sáng.

14. Hát vǎn - Dân ca đồng bằng Bắc bộ
Bài: Ba giá đồng
Biểu diễn: Mai Thủy

Hát vǎn là một hình thức âm nhạc gắn với tín ngưỡng Tứ Phủ - một tín ngưỡng dân gian bản địa của người Việt. Thông qua âm nhạc hát vǎn, các vị Thánh của tín ngưỡng Tứ Phủ lần lượt được mời về và nhập vào bà đồng để phán truyền, chữa bệnh, tiên đoán những điều sẽ diễn ra trong tương lai. Liên khúc “Ba giá đồng” tái hiện lại hình ảnh cô Bơ, cậu Bơ (Thánh miền sông nước) và cô Đôi ngàn (Thánh miền sơn trang). Dàn nhạc đệm gồm có đàn nguyệt đảm nhiệm phần giai điệu và nhóm nhạc cụ gõ gồm phách, cảnh, thanh la, trống chầu vǎn đảm nhiệm phần tiết tấu. Nếu kể cả giọng hát sẽ có đủ cả 5 âm sắc: Tơ (nguyệt), đồng (cảnh), gỗ (phách), da (trống) và thổ (giọng hát).

(Nguồn: http://vnmusicology-inst.vnn.vn)

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác