Trang chủ | Thứ tư, 24/04/2019 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 15292182
Trang chủ » Chuyện nhạc

NĂM ĐOẢN KHÚC VỀ ĐOÀN VĂN CÔNG QUÂN KHU 6

Thứ năm, 02/12/2010

Trọng Thủy

Xem văn công giải phóng

1

Người giao liên đưa tôi vượt đường quốc lộ 1A sang tỉnh Thuận Hải đêm đó là một chú bé, rất bé. Nếu chỉ nhìn vóc dáng tôi đoán chừng em cỡ mười hoặc mười một tuổi, song sự nhanh nhẹn và tính thông minh hoạt bát của em cho tôi biết gian khổ đã làm vóc dáng em cằn lại, và tuổi thật em chưa quá mười sáu.

Qua quốc lộ đi khoảng một tiếng sau tới trạm. Thì ra ở đây, một trạm giao liên, ngoài các cô chú trạm trưởng, cấp dưỡng, còn toàn là các cháu bé không quá mười lăm, mười sáu tuổi. Cái tuổi chơi nhiều hơn làm, cái tuổi còn lấy thuốc đỏ của y tá bôi lên báng súng của mình cho đẹp, thậm chí còn ăn vụng từng muỗng đường của đơn vị, còn hờn nhẹ với cô chú thủ trưởng khi bị trách bảo.

Đêm đầu tiên nằm gần biển, được phóng tầm mắt bao la của miệt trời đồng bằng, và bị cái ngạt mũi, nhức đầu của người rừng mới xuống biển nên cả đêm tôi không sao ngủ được. Sáng hôm sau chú nhóc giao liên đó đến gặp tôi, cháu nói:

- Nghe cô chú trạm trưởng nói chú là nhạc sĩ, chú ca ít bản cho cháu nghe đi chú.

- Chú mới ở trên rừng xuống đồng bằng, thay đổi khí hậu bị cảm cúm, ngạt mũi, vài ngày nữa khỏi chú ca cháu nghe.

Trên khuôn mặt ngây thơ của cháu thoáng buồn:

- Chú gắng ca cho cháu nghe đi, đêm nay cháu lại ra lộ đón các chú khác sang, lỡ gặp tụi nó cháu chết, làm sao còn được nghe chú ca.

Mắt tôi nhòa đi, miệng mằm mặn! Ôi, một đứa nhỏ, rất nhỏ như con cháu tôi, cái tuổi cắp sách đến trường, cái tuổi phải được mặc áo hoa và sự chăm đẵm của cha mẹ!

Song cháu đã phải sớm cùng ông cha, cô chú, anh chị lo việc nước! Cháu biết có thể tối nay cháu chết song cái đó không làm cháu bạn tâm tiếc nuối, mà cái tiếc lại là không được nghe chú nhạc sĩ ca! Và tôi đã hát như trong cơn mê, hát bằng máu thịt của mình.

- Ồ, sao chú lại vừa ca vừa khóc?

- Chú đã nói với cháu, chú bị cảm cúm, nước mắt chảy ra chứ chú đâu có khóc...

- Tối nay nếu không chết, cháu sẽ hái nhiều đào lộn hộn tặng chú.

Cháu tung tăng chạy đi để lại trong tôi niềm thương cảm vô bờ! Cháu lại ra đường đưa khách qua và đón khách sang. Cái túi tài liệu đã được các cô chú trong trạm đeo qua vai và gài ghim vào áo sợ cháu mải chơi rơi rớt. Tôi nằm trên chiếc võng dưới gốc cây ôrô nửa xanh nửa đỏ, bởi mảnh bom đã xé thân cây chảy nhựa; mắt nhìn trời, tai dõi hướng quốc lộ, lúc đó khoảng bảy, tám giờ tối. Bỗng tiếng súng ngoài lộ rộn lên... Nước mắt tôi tràn ra, nghe nhoi nhói trong tim. Trong những tiếng súng đó có thể có viên đạn đã cướp đi người chiến sĩ giao liên - người đồng chí, đúng hơn là một đứa bé như con tôi. Một mặt trời bé con của đất nước. Nếu sáng nay tôi chưa hát cho cháu nghe, chắc tôi sẽ ân hận suốt đời!

Cánh võng lung lay làm tôi bừng tỉnh, cháu lại đứng trước mặt tôi, vẫn nụ cười hồn nhiên và ánh mắt ngây thơ. Tôi ôm ghì cháu vào lòng như sợ mất đứa con của chính mình. Cháu thì thầm:

- Cháu xin lỗi đã không làm đúng lời hứa, vì gặp địch, nên cháu không hái đào về tặng chú được.

Từ cái chết trở về sao nhẹ nhàng thanh thản và không hề sợ hãi, mà chỉ buồn không giữ lời hứa với chú nhạc sĩ thôi.

Ôi những con người vĩ đại. Em sẽ ở trong ký ức của tôi suốt đời!

 

2

Phạm Ủy có chất giọng nam cao rất hay và trong sáng. Tôi từng đệm đờn cho anh hát chay không micrô trước hàng ngàn chiến sĩ, giọng anh cao hơn cả rừng ba tầng cây lá, bay xa khắp chiến trường cực Nam Trung bộ, tôi từng gọi đùa Ủy là " em anh Quốc Hương". Chúng tôi sống bên nhau, chia nhau từng hạt muối, mẩu thuốc và những lát mì khô để cùng nhau sống, sáng tác và biểu diễn.

Hôm đó địch đổ quân xuống Đồi Văn Công (hậu cứ văn công ở đó nên chiến sĩ đặt tên là Đồi Văn Công) cách chỗ ở của đoàn bốn năm trăm mét đường chim bay. Đoàn hành quân sang cứ khác, Phạm Ủy và Văn Thạnh xung phong ở lại bám địch.

Những chiếc trực thăng cần cẩu lên xuống đổ quân, thả pháo. Sẽ có nhiều đồng chí, trong đó có cả anh chị em văn công ta chết bởi những khẩu pháo này. Nghĩ vậy, sẵn súng trong tay (mặc dù nhiệm vụ của văn công là bảo vệ, an toàn lực lượng không chủ động đánh địch), Ủy đã nổ súng. Chiếc cần cẩu lừ lừ như con trâu mộng chưa kịp tiếp đất đã phải vọt lên đem theo một vệt khói đen bay về hướng Phan Thiết.

Không ngờ từ những loạt đạn bắn máy bay của Ủy, bọn Mỹ đi tuần quanh sân bay đã phát hiện ra vị trí của Ủy và Thạnh. Loạt đạn AR15 đầu tiên cùng với những tiếng "vi si" đùng đục đã phá nát đùi phải của Ủy. Thạnh lập tức quỳ dựa lưng vào Ủy và hai khẩu AK cùng nhả đạn. Bọn địch quá đông, bên ta chỉ có hai văn công quân đội, một giọng nam cao, một diễn viên kịch nói. Ủy biết không thể vượt vòng vây với cái chân nát bấy này được.

- Thạnh chạy đi, mình bắn yểm trợ.

Thạnh không nghe, đòi ở lại cùng sống mái với quân thù. Trong lúc này hai khẩu AK vẫn rung lên trong làn đạn bắn ngang, cắm đầu bọn Mỹ không ngóc lên được, tiếng AR15 rào rào như cối xay lúa vọt lên cao làm gãy cành rách lá cây rừng.

- Đoàn còn thiếu người, Thạnh phải sống, chạy đi, vĩnh biệt anh chị em!

Thạnh đành chia tay người bạn chiến đấu trong tình huống bất đắc dĩ, anh khom người chạy theo khe suối cạn. Trước khi biến vào rừng già anh nhìn lại, kịp thấy một động tác cuối cùng của người đồng chí, một ca sĩ quân giải phóng, Phạm Ủy ung dung giơ tay vuốt mái tóc như anh từng vuốt trước khi lên sân khấu, rồi nhả những viên đạn cuối cùng...

Động tác này đã được anh Xuân Sơn biên đạo múa đưa vào điệu múa Đôi bạn chiến đấu, anh Quý Thanh và tôi viết nhạc.

 

3

Trong những buổi hành quân leo dốc, trời mưa trơn trượt, một người ngã đánh oạch, những người đi gần hỏi ngay: " Có rách quần áo không?!", bởi rách da, toạc thịt còn lành lại được, chứ rách quần áo không có mà bận. Chúng tôi những chiến sĩ cực Nam khó khăn là vậy!

Đoàn văn công hành quân, trừ các bạn gái, còn đa phần quần xà lỏn, vừa để thoáng đãng đôi chân vừa vì thiếu thốn. Hậu cần vừa phát một bộ mới, phải để dành diễn tại tiểu đoàn Lá Bép 186. Cái tên Lá Bép là do tiểu đoàn đã từng hàng tháng không có cơm, phải ăn toàn lá bép mà chiến thắng vẫn nối tiếp chiến thắng và đã được Nhà Nước phong tiểu đoàn Anh hùng.

Tôi gặp Khắc Truy, người Hà Nội. Anh ở bộ phận đặc công, ít nói, hay cười bằng mắt. Chúng tôi thân nhau, từng ôm nhau ngủ trên cánh võng dù đôi, ôn lại phố phường Hà Nội sau những đêm diễn dưới ánh đuốc củi ngo mà anh chị em hát trong đoàn thường hay bị sặc sụa ho vì khói.

Rồi chúng tôi chia tay, kẻ đi biểu diễn, người đi đánh đồn.

Bỗng một hôm cả đoàn la lên: "Anh Trọng Thủy có quà!". Tôi khấp khởi mừng thầm ra nhận từ tay anh quân bưu một gói bọc kỹ, kèm theo một lá thư, đúng của Truy rồi. Tôi bóc ngay thư ra coi: "...Trọng Thủy thân mến! Mới lĩnh cái quần đùi, nghề của Truy đi chiến đấu lại không được mặc thứ này, gửi lên ông để góp phần tươm tất cho nhạc sĩ. Rất gấp, vài lời thăm Thủy và anh chị em trong đoàn, vì đêm nay bọn mình đi "thăm" cứ điểm Tà In, không lộ bí mật đâu, vì Thủy biết được việc này thì bọn mình đã giải phóng Tà In rồi. Thương nhớ người bạn nhạc sĩ - Khắc Truy".

Hôm sau đoàn được lệnh hành quân gấp đến biểu diễn phục vụ chiến sĩ giải phóng Tà In trở về. Đến nơi, tôi hay tin Khắc Truy, người bạn thân thiết của tôi đã nằm lại mảnh đất mình vừa giải phóng!

Chính nỗi đau và kỷ niệm đã giúp tôi nên người!

4

Bác Ái - một căn cứ kiên cường vững chắc của Bình Thuận và Ninh Thuận trong hai cuộc kháng chiến. Mảnh đất đầy gian lao và dũng cảm này đã sản sinh ra hai anh hùng quân đội Bi Năng Tắc và Bi Năng Thạnh.

Tuy nằm ngay sát sân bay Thành Sơn, song Bác Ái - nơi ngự trị của người dân tộc Rắc Lây anh hùng - vẫn là nỗi kinh hoàng của bọn giặc, vì chúng có đến nhưng không đường về bởi những bẫy đá, hầm chông và cung nỏ cùng với một thế trận thiên la địa võng.

Đoàn Văn công Quân khu 6 chúng tôi vừa tới Bác Ái vào lúc 8 giờ sáng sau ba - bốn ngày hành quân vượt lộ vất vả, thì tiếng F.105 từ sân bay Thành Sơn vọt lên xé rách bầu trời, đất đá tung lên, cây cối ngổn ngang... Chúng tôi nhìn nhau cười trong những hầm đá chứa được hàng bốn - năm chục người. Bà con ở đây hầu như không một ngày nào không hứng những trái bom, quả pháo. Chúng tôi vẫn ung dung trong hang đá chuẩn bị đạo cụ cho sáng hôm sau biểu diễn.

Được tin văn công về phục vụ, bà con bắp đùm sắn gói, có nhiều người ở xa phải bồng bế nhau đi từ chiều hôm trước cho kịp đến xem văn nghệ. đúng 8 giờ sáng, trên một bãi đất rông dưới những tán cây che kín của khu rừng già, chương trình biểu diễn bắt đầu.

- Kính thưa các đồng chí lãnh đạo địa phương, thưa bà con kính mến! Mảnh đất Bác Ái anh hùng và dũng cảm đã tiếp sức cho anh chị em chúng tôi, Đoàn Văn công Quân khu 6 về phục vụ...

Lời nói đầu của cô giới thiệu chưa dứt thì "xoẹt xoẹt xoẹt, oành oành!". Hai trái pháo rơi cách khu vực biểu diễn chừng hai trăm mét, đất đá tung rào rào, cành cây rơi răng rắc. Cả người xem lẫn người diễn trong chốc lát đã cùng nhau có mặt trong các hầm đá, khe đá. Năm phút, mười phút thấy im ắng, diễn viên phủi quần áo, bà con lại chỉnh tề.

Chương trình của Đoàn Văn công Quân khu 6 bắt đầu, tiếng phong cầm rộn ràng theo nhịp chân tốp nữ trong bộ trang phục của các cô gái Rắc Lây:

... ...Gà rừng đánh thức Pa Lây ta rồi!

Rộn ràng tiếng hát trên nương trên đồi...

Bài này của nhạc sĩ Phong Kỳ. Tiết mục tốp nữ mở đầu trót lọt, tiết mục tiếp theo tấu nói: Chiếc gậy tầm vông, sáng tác và biểu diễn Nguyễn Văn Tỉnh. Đến đoạn cao trào, bà con đang ngả nghiêng cười ra nước mắt thì lại "bạch bạch bạch bạch", hai chiếc trực thăng cá lẹp từ sân bay Thành Sơn nhào lên, "bùm cảo - bùm cảo". Chúng phóng rốc - két xuống ngay rẫy gần đó, khói bắp cháy, khói thuốc đạn khét lẹt, diễn viên và khán giả lại tản vào các nơi ẩn nấp. Bắn chán chúng đi, chúng tôi lại biểu diễn trót lọt ba tiết mục liền nhau. Lúc pháo, lúc trực thăng, lúc F.105, lúc L19 gọi loa chiêu hồi. Đến quá trưa mới được ngót nửa chương trình. Diễn viên đói, khán giả đói, thế là cùng nhau ngả bắp ra ăn, ăn xong tiếp tục diễn, và rồi lại pháo lại bom...Cứ thế cho đến xẩm tối chúng tôi mới diễn xong. Đoàn về hang nghỉ, anh chị em mệt nhoài, song từ các hang đá, khe núi lại vang lên những tiếng mã la trầm hùng và huyền bí như động viên sự sống và thách thức kẻ thù.

Bà con dân tộc Rắc Lây đến với âm nhạc và nghệ thuật nói chung là như vậy đó. Một buổi xem văn nghệ hơn 9 tiếng đồng hồ!

5


Đoàn Văn công Quân khu 6 chúng tôi lúc cao điểm nhất về quân số cũng chỉ ngót ba mươi người. Vậy mà trong cuộc kháng chiến chống Mỹ chúng tôi đã hy sinh tất cả hơn hai mươi người, trong đó có nhạc sĩ, ca sĩ, nhạc công và diễn viên múa, kịch v.v... Số còn sống cho đến năm 1975 hầu như không ai không có từ một đến nhiều vết thương trên người.

Có một ngày tôi không bao giờ quên. Thường cán bộ, đảng viên, chỉnh huấn trước, hôm đó đến quần chúng. Số cán bộ, đảng viên chúng tôi, kẻ nấu cơm, người đi săn, người làm rẫy. Tôi váo súng đi săn bởi cũng có khiếu bắn, còn Quý Thanh violon, Nguyễn Ngọc Lan sáo tây, Văn Thanh đàn nhị, Hoàng Dự đơn ca cổ và Nguyễn Văn Tỉnh, Thúy Lan viết kịch và ca tân nhạc ra làm rẫy. Lúc đó khoảng một giờ chiều, tiếng L19 vo ve, bỗng hai chiếc trực thăng cán gáo hồng hộc bay vọt ra hướng rẫy. Đạn nổ như bắp rang, tiếng rốc - két như trống chầu khoảng ngót nửa tiếng rồi im bặt. Gần một tiếng sau Thúy Lan chạy từ rẫy về trong tiếng thở và nước mắt:

- Các anh ngoài rẫy chết hết rồi!

Tin như sét đánh, anh chị em trong đoàn ào chạy ra rẫy. Người đầu tiên tôi thấy là nhạc sĩ Quý Thanh (anh chàng đẹp trai có bộ râu quai nón đã cùng tôi viết chung nhạc múa Đôi bạn chiến đấu). Anh nằm sấp tay vẫn trườn lên với cây xà bách. Rồi kia anh Tỉnh, anh Thanh đàn cò, rồi anh Dự anh Lạn, tất cả đã về cõi vĩnh hằng mà mắt vẫn nhìn chúng tôi như dặn dò tiếp bước. Tôi ra suối giữa rẫy chặt đòn khiêng. Người phủi đất lau mặt các anh, người nắn chân vuốt mắt. Oành oành... Đất bụi tung lên, lại hai chiếc cán gáo trườn theo khe núi bắn xuống rẫy. Các anh chết cũng vì không nghe được tiếng trực thăng và khi nghe thấy chúng đã bắn mình rồi. Anh em tản nhanh vào khu trồng sắn, riêng tôi chơ vơ không thể chạy đi đâu được đành nằm dìm xuống nước, từ từ lấy cỏ và lau lách phủ lên mặt lên người. Bỗng thấy bả vai mình nẩy lên, liếc nhìn mặt nước có màu đỏ, tôi đã bị thương nhưng không dám động đậy, bởi trực thăng cán gáo đứng tại chỗ cách mặt đất không đầy năm mét. Trời chạng vạng, hai con rắn độc và bọn trực thăng cá lẹp bảo vệ tầng trên mới lao về hướng Phan Thiết.

Trăng thượng tuần 13 đã giúp chúng tôi í ới lần mò tìm ra nhau. Trận thứ hai này may không ai chết nhưng cũng tới ba người bị thương: anh Nghệ chính trị viên của Đoàn, anh Xuân Sơn trưởng đoàn biên đạo múa và tôi. Đoàn ngót hai chục người thì năm người chết, ba bị thương, ba bốn người sốt rét, số còn lại đa phần là nữ. Chúng tôi đành phải cử người chạy sang cứ của điện ảnh nhờ các anh tới giúp đỡ đưa về hậu cứ chôn cất. Sự mất mát của chúng tôi, những người làm nghệ thuật trong thời chiến có lúc là như vậy.

 

Bảo Lộc, 10 - 1994

 

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Các bài viết khác