Trang chủ | Chủ nhật, 25/06/2017 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 13925678
Trang chủ » Chuyện nhạc

THEO DÒNG ĐỜI FRANZ LISZT (7) (Trích sách cùng tên)

Thứ năm, 21/06/2012

Roland de Candé (Dịch: Trịnh Thị Nhàn)

Phần II - Cuộc đời với Marie

Trong thế giới mà sự bất lực và tầm thường khiến người ta trở nên phi lí thì thật hạnh phúc nghìn lần cho kẻ nào trở nên phi lí bởi tình yêu

Stendhal (Lucien Leuwen)

1833 - 1835

Mùa đông năm 1832 - 1833, Franz thường xuyên lui tới nhà bà hầu tước le Vayer, vợ của René de Maupeou, một mệnh phụ đẹp của Faubourg Saint Germain, có người cháu gái là Chalotte de Talleyrand, học sinh của người thày trẻ thời thượng. Bà ngụ trong một biệt thự ở rue du Bac, nơi đây Franz  kề cà nán lại để chơi đàn trong những tối âm nhạc, một sinh hoạt thường có trong gia đình. Anh tâm sự: anh rất sợ  bị phô trương như một con vật bác học!

Một tối cuối tháng 12, khi tham dự buổi sinh hoạt âm nhạc tại nhà bà Vayer trong đó có diễn một hợp xướng nữ của Webes. Franz bị giữ lại ở buồng bên cạnh để tiếp tục viết một phần bị thiếu của hợp xướng, khi trở lại salon, anh thấy một mĩ nhân, tóc vàng cuộn từng búp mềm mại với cặp mắt trong suốt như ngọc bích. Nàng cũng xanh xao giống anh, người thật mảnh mai trong lớp áo choàng bằng mousselie: đó là nữ bá tước Marie D’Agoult. Sau này, trong tập hồi kí của mình, nàng đã kể lại ấn tượng mạnh mẽ của giây phút gặp gỡ đầu tiên  với Liszt:

“Trong khi bà Vayer còn đương nói thì cửa bỗng mở ra và tôi chợt thấy một người lạ hiện ra, tôi nói hiện ra bởi nếu nói một từ nào đó khác thì tôi sẽ không nêu lên hết được cảm giác đặc biệt của mình. Trước hết phải nói đó là một loại người hết sức loại biệt mà tôi chưa hề gặp bao giờ. Anh ta cao, gầy, khuôn mặt tái, cặp mắt thật to với một màu xanh nước biển chói loà tựa như được phản chiếu từ những đợt sóng cuồng nộ, một vẻ mặt buồn nhưng đầy sức mạnh. Anh ta bước đi do dự và như trượt nhẹ hơn là đặt chân lên sàn. Một vẻ gì lơ đãng, hơi bồn chồn như ám ảnh của bóng ma chợt hiện lên vào lúc tiếng chuông điểm báo bóng đêm đã tới. Tôi linh cảm ngay trước mắt tôi là một thiên tài mà cuộc đời đã ẩn giấu bấy lâu nay để rồi giờ đây bỗng thức tỉnh trong tôi một nỗi tò mò háo hức muốn tìm hiểu anh ta cũng như những vinh quang mới đây của anh.

Khi anh đến tự giới thiệu với tôi, anh mạnh dạn ngồi cạnh tôi chừng như đã quen biết từ lâu lắm. Franz có cử chỉ thân mật, tôi cảm thấy dưới bề ngoài lạ lẫm mà tôi đã sửng sốt lúc này là một sức mạnh và một tinh thần tự do đã cuốn hút tôi. Tất nhiên là sau buổi trò chuyện tôi đã nhận ra ngay kiểu người này thật hiếm gặp được trong thế giới tôi đã và đang sống. Franz nói hăng hái, rồi đột nhiên anh giải thích một cách bộc trực những ý nghĩ và có những nhận xét thật kì lạ đối với những điều tôi đã quen nghe từ những dư luận xung quanh mình.Cái nhìn của anh chiếu rọi hơi là lạ với tôi, nụ cười lúc thì sâu sắc và dịu dàng vô hạn, lúc thì châm chọc, dường như muốn kích động tôi hoặc phải chống lại anh, hoặc phải tán đồng với anh một cách thân mật. Tôi còn đang phân vân không  biết nên thế nào và đã ngạc nhiên biết mấy về sự mau lẹ của một quan hệ quá mới mẻ,  tôi hầu  như không trả lời được gì”.

Với sự gợi ý của bà Le Vayer nữ bá tước d’Agoult mời Liszt đến nhà nàng. Nàng sống với chồng, mẹ nàng và hai cô con gái ở tầng trệt của hôtel de Mailly, góc đường Beaune và bến Malaquais (nay là bến Voltaire). Trước đó, nàng đã không sao viết nổi tấm thiếp mời anh, một người tài năng và đáng yêu, một người của thế giới khác, người không biết đến những quy ước và những ý tưởng thu nhận được: “Ba lần tôi viết lời mời mà vẫn chưa thấy thoả đáng”. Cuối cùng, có lẽ nhờ giọng điệu đầy vẻ thuyết phục, Franz đã đến ngay lập tức. Anh cũng vậy, anh đã rất xốn xang bởi nàng tiên tóc vàng mong manh này. Liszt trở thành khách quen của nhà rue de Beaune! Chàng thì bị vẻ đáng yêu quyến rũ, nàng thì bị quyến rũ bởi cá tính, tài năng, cách nói chuyện, vẻ buồn và cái vẻ ẩn dật nửa vời mà ở các salon Paris không giải thích được... Nàng đã 28 tuổi, chàng chỉ mới 21.

Marie de Flavigny đã lấy chồng năm 1827. Chồng nàng là đại tá Charles d’Agoult, hơn nàng 16 tuổi. Đám cưới được thu xếp bởi ông hoàng La Trémoille. Gia đình hoàng gia và hơn chục gia đình khác đã kí vào tờ chứng nhân kết hôn. Ông xấu bao nhiêu thì vợ ông lại đẹp bấy nhiêu, ông chồng không của nả, không có đầu óc tinh thần gì đặc biệt nhưng là một người đàn ông can đảm, độ lượng và hiền hậu. Những năm về sau này, Marie D’Agoult vẫn tự hỏi rằng ai đã thúc nàng chấp thuận cuộc hôn nhân này?

“Không biết do sự tự nguyện sai lầm nào mà tôi lại chấp nhận một người đàn ông vừa quen biết mà tất cả ở ông ta đều không xứng hợp với tôi. Bởi sức mạnh vô hình nào của tục lệ, một đám cưới mà ai cũng thấy là không nên tán đồng: bởi  khoảng cách tuổi tác, sự dị biệt trong tính tình và cả  sự trái biệt rõ rệt trong hình thức bên ngoài, cuối cùng đã được quyết định, bất chấp sự khiếp hãi của tôi”.

Cá tính đặc biệt của nữ bá tước D’Agoult, đầu óc độc đáo không lệ thuộc vào những ý tưởng thu nhận được, những mâu thuẫn giữa nguyên tắc  và sự tưởng tượng của nàng, tất cả bắt nguồn từ những tương phản đánh dấu sự ra đời của nàng và nền giáo dục nàng hấp thụ. Marie là người sống động, thông minh, tài giỏi, một nhạc sĩ cừ, nói thạo 3 thứ tiếng, viết giỏi, đọc nhiều. Nàng quen và có quan hệ với tất cả giới văn nghệ sĩ ở Faubourg Saint Germain. Trong lúc thừa hưởng cả hai nền văn hoá, nàng đồng thời hấp thụ cả hai dòng tín ngưỡng là đạo Lute và đạo thiên chúa. Đầu năm 1832, trong những ngày ở Thụy sĩ, Marie D’Agoult trải qua một cơn suy sụp và tìm cách tự tử. Nàng được đưa vào bệnh viện Saint Antoine của Genève để bác sĩ Coindet chăm sóc.

Để vượt qua sự bất ổn của mình, nữ bá tước D’Agoult chỉ có cái salon làm khuây. Nàng động viên Rossini bằng cách làm người đệm piano cho các ca sĩ nổi danh nhất ở salon của nàng. Văn sĩ Vigny đến để đọc những tác phẩm mới của mình... Mọi khách khứa đều thú vị. Nhưng chính nàng lại thất vọng “bởi cái salon bao gồm toàn thứ chẳng giá trị gì với tôi cả”.

Khi Franz Liszt đến vào đầu năm 1833, anh đã nhanh chóng trở thành khách quen mặt tại nhà “nàng Corinne  ở bến Malaquai”,  theo cách nói của Sainte - Beuve, ám chỉ một nữ  nhân vật chính trong tác phẩm của bà de Stael.

Liszt tiếp tục chứng tỏ tài điêu luyện piano với các cô học sinh trẻ của Faubourg Saint Germain đồng thời làm mê mẩn các bà mẹ. Anh làm nhiều các concert không lấy tiền. Ngày 2/4 Liszt và Chopin cùng diễn tại salle Favart vào thời gian nghỉ ở concert của cô kịch sĩ người Ái nhĩ lan Hariette Smithson, nàng Ophelie mà Berlioz mê như điếu đổ (cô ta lại bị ngã gãy chân và đang sa sút). Ngày hôm sau họ vẫn còn chơi concert của anh em Herz. Chopin vừa cho xuất bản tại nhà xuất bản Schlesinger ở Paris và nhà  xuất bản Kistner ở Leipzig tập 12 Etudes op 10 của mình được đề tặng người bạn F. Liszt. Tình bạn của họ xây dựng trên sự quý trọng lẫn nhau. Chopin không thích những sáng tác của Liszt nhưng lại rất khâm phục tài piano và chỉ ao ước có được kỹ thuật chơi piano như Liszt để đàn các Etudes của mình: “Tôi đã  không tính đến sự lương thiện của mình - anh viết - tôi chỉ muốn lấy cắp được kỹ thuật thiên tài của Liszt để thể hiện các tác phẩm của tôi”.

Franz chơi ngày càng trội. Những buổi dạy học là nguồn thu nhập chính của anh. Anh tập đàn, biểu diễn, đọc sách, kết bạn, tham dự đời sống thượng lưu... tất cả không còn chỗ cho nỗi chán đời nữa. Cách đây 6 năm khi bố chết, và 5 năm anh bị thất vọng đột ngột với mối tình đầu, giờ đây Franz lại trỗi dậy trên bề mặt xã hội yêu thích của anh. Trong lúc này, anh tạm gác lại ý định đi tu. Trước hết, sự lãng mạn của nữ bá tước ở bến Malaquai đang chiếm hết ý nghĩ của anh... và cả một phần sự ham muốn của anh. Họ nói với nhau về tình yêu phần nào như một trò chơi.. Họ hau háu xem những phản ứng của nhau trước khi có sự thông cảm trong lĩnh vực sùng đạo. Họ trao đổi với nhau sách vở... tinh thần dường như bình thản nhưng trong lòng đã ấp ủ si mê. Tất cả đều là cái cớ để viết ra cho nhau với sự nhiệt tình tăng trưởng trong một cung cách vẫn còn như ước lệ!

“Em cô đơn, cô đơn với ý nghĩ lớn lao mà ý nghĩ ấy lại là anh. Em yêu anh với tất cả tâm hồn. Anh nói với em rằng anh yêu em  mà không cần  gặp em! Ý nghĩ này đã làm em kinh ngạc, hôm nay em mới thấy nó thực đến đâu. Anh ở đây, luôn luôn ở đây và em gặp anh trong tất cả những chi tiết trẻ con nhất của đời em. Khi Adèle chải tóc cho em, em nhìn trán em bởi vì anh đã yêu nó. Khi em ăn, em dùng cà phê và mỉm cười với ý nghĩ rằng em chỉ thiếu có chừng ấy để trở thành bà Stael thôi. Cái mà hình như em  không thể hiểu, đó là sự xâm nhập không tưởng tượng nổi (cho em mượn từ này nhé) của tình cảm tôn giáo trong em. Đời em là một lời cầu nguyện, một sự tôn thờ bất diệt. Em muốn nói với anh rằng với những nỗi đau của em hiện nay hay trong tương lai, anh không cần phải khóc chúng, bởi anh đã làm cho em quá nhiều cái tốt và chẳng thể nào anh mang lại cho em nỗi khổ đau. Anh đã hoàn toàn cắt đứt mọi liên hệ của thế giới này với em và anh đã thức tỉnh em trong tình yêu cao cả, tình yêu này đã  bị bóp nghẹt  trong  em  bởi cảm thức về những nỗi đau riêng của em mà em không ngừng hiến dang Chúa, bởi em tin rằng nhẫn nhục là đức hạnh duy nhất  của em  và nó phải thay thế mọi đức hạnh khác”...

Còn Liszt thì viết:

“Em có nhớ chăng em, lời hứa mà em đã nói trước khi đi. Anh đã giữ lấy nó và lấp đầy trong tim anh đây. Em có biết hay em đã quên rằng anh cần nói với em thực sự một lần, thành thật, nghiêm túc trong đời anh? Cái ngày đó, anh có thể nói với em và cả em cũng nói về em nữa nhé. Em muốn anh nói anh sẽ trở nên một người thế nào ư? Chúa ơi! Em biết quá ít về anh: đó chính là sự tăng trưởng một ý tưởng, ý tưởng đó là Chúa”.

Cả hai cùng bất hạnh, chí ít họ đã tin như vậy. Cả hai đều phải lòng nhau một  trăm phần trăm! Họ cùng thấm nhuần một thứ văn học lãng mạn cũng như những tư tưởng quảng đại và cùng lơ mơ về xã hội họ đang sống. Cuộc gặp gỡ của họ là cơ hội của văn chương với đầy ám chỉ riêng tư, những ý nghĩ còn che giấu, hoặc những cơn ngây ngất khi được nhìn nhau say đắm!  Gặp nhau trong tiếng thở dài, họ trở thành người tình của nhau trong niềm sung sướng hạnh phúc hay thất vọng nhưng bao giờ cũng là để chia sẻ cho nhau và tất cả hầu như diễn ra mồn một dưới mũi ông Charles D’Agoult và bà de Flavigny!

Gia đình D’Agoult qua mùa hè ở lâu đài Croissy cách Paris 30 km gần Lagny - sur - Marne. Salon được dọn về Croissy. Những lâu đài bên cạnh như Guermantes, Ferreres cũng đều đang chuẩn bị để ở cả. Tất nhiên, Liszt cũng được mời đến. Anh ở đây nhiều ngày trong hè 1833. Trở lại Paris, Franz và Marie thay đổi hẳn trang trí nội thất cho một căn nhà nhỏ mà họ gọi là lỗ chuột, nơi họ lên thiên đàng với nhau, nếu có thể gọi như vậy! Franz viết:

“Hôm qua anh đã không cầu nguyện buổi tối. Hình như chúng ta vẫn còn chưa phải xa nhau. Cái nhìn của em lấp lánh làm trời sao cũng phải thẹn. Mỗi hơi thở của em còn đang như vẫn vương trên môi anh và trên mí mắt anh, ở đấy, không có không gian, không có thời gian, và không một tiếng nói... nhưng còn cái Vô cùng, Tình yêu, sự Quên lãng, điều  Lạc thú, điều Phước lành. Và Chúa, Chúa ta hằng tìm kiếm và cảm nhận bằng nỗi thất vọng và khổ đau tột cùng Lạy Chúa lòng lành vô cùng!

Họ đã cùng nhau tạo nên một cuộc ngoại tình bí mật. Sau khi đã đọc quá nhiều những tiểu thuyết lãng mạn Đức, nơi  đam mê tình ái và mặc khải tôn giáo hoà lẫn nhau.

Vào cuối năm 1833, Franz dành nhiều thời gian cho tình bạn, chủ yếu với Berlioz. Ngày 3/10 anh làm nhân chứng cho đám cưới của Berlioz và Ophélie, nữ nghệ sĩ Harriett Smíthon. Hôn lễ cử hành tại sứ quán Anh, không  một xu dính túi, cặp vợ chồng dọn về Vincennes, và một năm sau lại dọn về Montmartre. Berlioz phát điên vì Ophélie. Liszt giúp đỡ bạn như anh vẫn hay làm. Ngày 24/11, anh làm một concert để giúp Berlioz tại Ý: anh chơi dưới sự chỉ huy của Berlioz bản concerto của Webes. Sau đó là một concert ở nhạc Ý, anh vẫn chơi concerto này và một bài trưng trổ kỹ thuật tuyệt diệu khiến mọi người đều say mê. Paganini cũng đi dự buổi này. Những hoạt động của Liszt không ngăn cản anh đọc rất nhiều. Với sự khát khao học hỏi và học viết. Anh viết những bản chuyển biên cho piano và một concerto cho piamo và đàn giây, sau này là tác phẩm Malediction.

Ngày 5/1/1834, là ngày ra mắt số báo đầu tiên về âm nhạc ở Paris mà Liszt đã là một trong số người sáng lập ra đồng thời là biên tập viên. Giám đốc xuất bản là Maurice Schlesinger và trong số các cộng tác viên ta thấy có Berlioz, Fetis, Alexandre Dumas, Balzac, George Sand, Jules Janin sau thêm cả Schumann và Wagner nữa. Mới 22 tuổi Liszt đã có rất nhiều quan hệ với cả giới thượng lưu và giới nghệ thuật văn học. Nữ bá tước D’Agoult cũng chia sẻ với anh và làm lu mờ những nhân vật nổi tiếng hay vắng mặt ở salon, nhất là Chopin. Franz đi Normandie ngày 15/5 và ở một tháng tại nhà bạn anh là bà d Haineville tại lâu đài de Carentonne, gần Bernay. Anh mang theo thật nhiều sách, rất ham học, anh tìm hiểu từ tưởng (Pensées )của Pascal cho đến tác phẩm mới như Lời một tín đồ  (Paroles d un croyant )của cha Lamennais, người có những ý nghĩ và cá tính gây ấn tượng mạnh cho Liszt. Trước khi đi khỏi Carentonne, anh viết cho Marie:

“Hiển nhiên là mỗi dòng mỗi chữ của em với anh là vô cùng quý giá và thân yêu. Trước đây anh đã không chấp nhận mấy lời khuyên của em đề cập về sách của Lamennais. Cho đến bây giờ, cả Victor Hugo - người chỉ xem  trong Lời một tín đồ là một tác phẩm tầm thường bởi nội dung lẫn hình thức, một  mô phỏng đày rườm rà vô ích, nhất là thiếu tư tưởng - lẫn Lamartine đã khuyên ta không nên để các bậc thày tu đọc đến, cũng như những bài viết thô bỉ trong tạp chí constitutionnel... tất cả đều không lung lay được niềm tin của anh.

Kỳ lạ thay cái thứ thiên chúa giáo của một số người mà cái gọi là đúng mực của họ, rút cục chỉ là để che đậy sự hèn nhát. Thiên chúa giáo ở trạng thái câm lặng và nô lệ, xin xỏ chút cháo loãng kinh tế và vài đồng xu bố thí, lắp bắp một cách ngu xuẩn những công thức già nua và nắm gục dưới đất, không tim phổi, không gan ruột, bất lực và ngẩn ngơ trước vô số tệ nạn và đồi bại ghê gớm của xã hội. Ôi! Nếu đức Chúa còn đến vào thời điểm này, thử hỏi Người sẽ tìm đâu thấy đức tin? Anh hiểu mọi hạn chế,  mọi nhận xét sáng suốt mà người ta có thể nêu ra với cuốn sách tuyệt vời này. Nhưng, thành thực mà nói,  phận sự của anh, của chúng ta, đâu có phải là ném đá vào vị giáo chủ đang thánh hoá Tự Do và Bình Đẳng, hai giáo điều lớn của nhân loại, bằng cáimiệng thét ra lửa và ngỏi bút thép của ông”.  

Những dòng trên đây đã cho thấy tình cảm nhân đạo của Liszt và bản chất tự nhiên trong con người Cơ Đốc giáo của anh. Vào tháng 4, một cuộc nổi dậy mới của thợ dệt lụa Lyon đã bị dìm trong bể máu bởi tướng Buchet. Rất phẫn nộ, Liszt đã phác thảo một tiểu phẩm cho piano với xúc cảm mạnh mẽ: Lyon, để tưởng nhớ những người thợ dệt. Tác phẩm đã được làm lại vào năm 1837 và bổ sung vào tập Album Một người hành hương. Mùa xuân năm 1835 Lamenannais đã hùng biện bảo vệ những công nhân bị bắt đưa ra toà. Ông mở một chiến dịch quyên góp để ủng hộ họ và Liszt đã tham gia tích cực.

Tại Carentonne Franz tiếp tục đọc, viết, làm việc về kỹ thuật piano. Anh viết được tác phẩm lớn và bản Fantaisie cho piano và dàn nhạc theo chủ đề Lelio của Berlioz, một bài De Profundis cho piano và dàn nhạc (bỏ dở) cùng ba bản Apparitions cho piano. Có một thư anh viết cho Marie, chắc hẳn là được gửi từ Carentonne, phân trần về những hiểu nhầm từ những thư cô Euphemie Didier trước đây do chính Marie phát hiện ra:

“Đã 4 giờ rồi, anh chỉ có thời gian để nói với em 3 lần thế này: đáng cười, đáng cười, đáng cười!!! Anh không biết do sự tình cờ nào mà có những bức thư được em hân hạnh gửi lại cho anh, em có biết là chúng đã là ở đâu ra không? Chúng nằm trong một cái thùng giấy tội nghiệp bị bỏ xó một nơi vì tất cả đều viết từ năm 1831 kia mà: lúc ấy mẹ anh và bàhàng xóm Didier muốn vỗ về cho anh yên tâm khỏi bị những cơn kích động hăng hái ngoài đời nên cứ mong rằng anh và cô Didier sẽ lấy nhau nhưng mà thôi, anh không muốn tỏ ra hợm mình...

Chí ít, nếu em đã đọc rồi thì em có thể nhìn thấy ở dưới một cái  thư bị xé ấy có câu từ nay  tôi và cô không có quan hệ gì nữa. Thư này đã viết khoảng tháng 10/1831. Từ đó anh không một lần muốn gặp lại cô gái cho dù mẹ anh có hy vọng, có doạ nạt anh đi chăng nữa, bởi chỉ vì muốn hoà giải với mẹ đang quá mệt mỏi với những cơn điên của anh nên anh đã nói đồng ý lấy cô ta”.

Thế là Marie ghen và Franz thì tự ái. Liệu họ có cư xử với nhau như một cặp vợ chồng cổ lỗ? Nếu vậy thì quả là buồn. Nhưng, ngược lại, quan hệ của họ càng nồng nàn hơn mặc dù Franz có tính tự cho mình là rốn vũ trụ còn Marie thì quá nhạy cảm,  điều dễ gây nên những căng thẳng thoáng qua.

Ngày 13/9 Liszt rời Paris và người tình của anh để đi Bretagne. Cha Felicite de Lamennais đã mời anh cùng Saint Beuve tại nhà riêng của ông ở La Chênaie gần Dinan. Do bị chỉ trích bởi tư tưởng tự do và việc đòi  tách rời giữa giáo hội và nhà nước, Lamennais vừa bị lên án nghiêm khắc khi cho ra mắt cuốn Paroles d un croyant ngày 30/4. Những ý tưởng nhân đạo và dân chủ được giãy bày trong tác phẩm đã gây ấn tượng mạnh cho Liszt và Lamennais rất  coi trọng sự hăng hái và nhiệt tình của anh. Ông cha trở thành người giáo huấn lương tâm, người bạm tâm tình của anh trong tất cả hoàn cảnh. Đời sống tại La Chênaie thật lành mạnh, chăm chỉ và khắc khổ nữa. Franz tỏ ra thoả mãn, chỉ thiếu có Marie! Anh nhắc đi nhắc lại rằng nàng là trung tâm của mọi ý nghĩ của anh với Chúa, bởi Chúa và cũng là trên đời này nữa!

“Không có gì có thể lấp đầy vực thẳm trong tim anh. Chỉ riêng tia sáng của mắt em thôi cũng đủ sưởi ấm lòng anh...và anh đã tươi mát lại. Marie ơi, hãy quàng vòng tay em lên cổ anh đi, hãy áp sát trái tim em vào lồng ngực anh đây. Nơi này, anh trần trụi một mình, lạnh lẽo quá, hãy phủ tình em lên anh, hãy đốt cháy một lần nữa đi em, bằng nhiệt tình vô tận, hãy lôi anh dù chỉ trong chốt lát khỏi những đau khổ của thời  đại, hãy làm sống lại hồn anh”...

(Còn nữa)

 

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác