Trang chủ | Thứ hai, 22/12/2014 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 10851196
Trang chủ » Luận bàn

ÂM NHẠC DÂN TỘC – NỀN QUỐC NHẠC VIỆT NAM?

Thứ ba, 17/04/2012

Nguyễn Thị Mỹ Liêm

Đầu thế kỷ XX, nền âm nhạc Việt Nam có những thay đổi lớn lao. Đó là việc hình thành nền âm nhạc mới với sự tiếp thu mang tính hệ thống từ những yếu tố cơ bản như hệ thống âm, thang âm đến lý thuyết âm nhạc, thể loại, hình thức, nhạc khí, cách thức thể hiện... Với sự tiếp thu này, nền âm nhạc Việt Nam chịu sự phân hóa mạnh mẽ, thành hai hướng, hai dòng âm nhạc, hai khái niệm rõ rệt: nhạc mới nhạc dân tộc cổ truyền – hay còn gọi là nền âm nhạc truyền thống.

  1. Âm nhạc dân tộc – âm nhạc truyền thống thời đại ngày nay:

Trước thế kỷ XX chưa hề có khái niệm nhạc mới, nhạc dân tộc cổ truyền ở trong cung đình hoặc trong dân gian; âm nhạc của những nghi lễ - phong tục và âm nhạc trong đời sống tinh thần và vật chất của người dân, âm nhạc của mỗi giai đoạn trong cuộc đời con người… Đó là dân ca, là âm nhạc trong các nghi lễ phong tục dân gian, là Ca Trù, Ca Huế, Đờn ca Tài tử, là Quan họ, Xẩm, Xoan... là nền âm nhạc dân tộc - Việt Nam.

Người Việt Nam biết đến nền âm nhạc phương Tây vào cuối thế kỷ XIX đầu XX, bắt đầu bởi những nhà truyền giáo, những nhạc công người Pháp, những ca khúc Pháp và những bài kèn của quân đội viễn chinh… Cũng từ đó, âm nhạc Phương Tây vào Việt Nam bằng những bước rất dài. Chỉ trong vòng một thế kỷ, Việt Nam có dàn nhạc giao hưởng đẳng cấp quốc tế, có giải nhất Chopin của NSND Đặng Thái Sơn, có những tác phẩm giao hưởng, thính phòng đoạt giải quốc tế…

Trong chừng mực nào đó, dòng âm nhạc dân tộc cổ truyền cũng có những tiếp biến với nền âm nhạc phương Tây, hình thành một nền âm nhạc dân tộc truyền thống với nhiều khái niệm mới mà trước đó chưa từng được nghe nói đến: “nhạc cải cách”, “nhạc cổ, nhạc tân”, “nhạc dân tộc đương đại”, “nhạc truyền thống” v.v...

Không ít nhà nghiên cứu vẫn luôn đòi hỏi và tự hỏi “Như thế nào là nền âm nhạc dân tộc truyền thống đích thực?”

Thật ra, sự tiếp thu và biến đổi trong văn hóa nói chung và âm nhạc nói riêng là hiện tượng bình thường và phổ biến đối với hầu hết các nền văn hóa, âm nhạc trên toàn thế giới, kể cả những nền văn hóa có lịch sử lâu đời và là trung tâm của nền văn minh của nhân loại. Chúng ta thấy nối quan hệ tiếp thu – biến đổi trong văn hóa Hy Lạp – La Mã, Văn hóa Ấn Độ và văn hóa một số nước Hồi Giáo, văn hóa Ấn Độ và văn hóa các nước Đông – Nam Á v.v...

Tuy nhiên, đặc điểm bản sắc cũng được thể hiện ở sự tiếp nhận và biến đổi văn hóa. Cũng là sự vay mượn, tiếp biến nhưng người Việt luôn có cách tiếp thu và luôn biến đổi để hình thành hiện tượng văn hóa riêng mang hoàn toàn bản sắc Việt. Cùng với quá trình phát triển văn hóa của dân tộc, để phù hợp với truyền thống văn hóa bản địa và điều kiện xã hội đương đại, các hiện tượng văn hóa ngoại lai được tiếp thu, biến đổi, tồn tại cùng với truyền thống văn hóa dân tộc, và được xem như một giá trị văn hóa dân tộc đích thực. 

Điều đó cũng dễ dàng nhận thấy ở nền âm nhạc dân tộc truyền thống ngày nay. Âm nhạc dân tộc cổ truyền tiếp thu lối ký âm trên năm dòng kẻ để ghi chép lại, ít nhất là lòng bản với những ghi chú nêu rõ đặc thù của âm nhạc dân tộc, mục đích để gìn giữ và lưu truyền, để đào tạo và giới thiệu ra nước ngoài. Tiến xa hơn nữa là sự tiếp thu hình thức, thể loại, lý thuyết, tư duy cấu trúc của âm nhạc phương Tây để có những sáng tác mới như giao hưởng, concerto, sonate dành cho nhạc cụ dân tộc; sự cải tiến về kỹ thuật diễn tấu và cải tiến nhạc cụ (gắn điện cho đàn bầu, khoét lõm phím đàn guitare, đưa vào dàn nhạc dân tộc và các học viện âm nhạc đàn tam thập lục...)...

Tóm lại, không phải là mới mẻ đối với sự biến đổi trong bản thân nền âm nhạc dân tộc, nhưng sự tiếp thu và biến đổi không được làm mất đi bản chất của nền âm nhạc. Nền âm nhạc dân tộc truyền thống dù có thay đổi và cải biên… vẫn phải giữ được cái gốc, dù đã có một dung mạo mới.

 2. Âm nhạc dân tộc truyền thống “ở đâu” trong nền âm nhạc nước nhà?

Từ những năm 80 của thế kỷ XX, khoa học công nghệ thông tin phát triển bằng những bước khổng lồ, đưa con người đến gần nhau hơn, những sáng tạo mới ở bất kỳ nơi nào trên thế giới vừa ra đời đã có thể lập tức được đưa đến người thụ hưởng. Sáng tạo văn hóa vừa ra đời đã có thể lập tức trở thành tài sản văn hóa chung của nhân loại. Điều này khiến nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia lo lắng về một thế giới nhất thể trong cơn lốc của “toàn cầu hóa”.

Ngay từ năm 1943, Đảng và nhà nước đã có quan điểm và định hướng về văn hóa nói chung và âm nhạc dân tộc truyền thống nói riêng (thông qua đề cương Văn hóa năm 1943). Gần đây, với Nghị Quyết Trung ương V Khóa VIII, quan điểm đó càng được các định rõ rệt và là cơ sở định hướng cho văn hóa, nghệ thuật cũng như âm nhạc trong giai đoạn hiện nay là: “Xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Trong quá khứ, Đảng và nhà nước đã quan tâm bảo tồn và phát triển nền âm nhạc dân tộc, đã có những đầu tư cho sưu tầm nghiên cứu; sáng tác, biểu diễn và đào tạo âm nhạc dân tộc, âm nhạc cổ truyền. Âm nhạc dân tộc được hệ thống hóa, chính quy hóa, được đưa vào bảo tồn, nghiên cứu, giảng dạy trong các viện nghiên cứu, học viện, nhạc viện. Nhưng, ngày nay những thay đổi quá lớn, nhanh, mạnh do xu hướng toàn cầu hóa và cơn lốc thị trường về kinh tế, vị trí của âm nhạc dân tộc trong đời sống của người dân đã có nhiều thay đổi.

nhaccucotruyenNếu như trước đây, âm nhạc dân tộc là thể loại duy nhất được sáng tạo, diễn xướng, sử dụng và cảm thụ trong đời sống tinh thần và vật chất của người dân thì nay đã có rất nhiều thể loại khác, từ nhiều nguồn khác nhau. Đời sống âm nhạc được hình dung như một “thị trường” và người dân có thể chọn lựa (mà không có định hướng), thậm chí bị tiếp nhận một cách thụ động.

Nếu như âm nhạc dân tộc Việt Nam với nguồn cội từ nền kinh tế trồng lúa nước, đã sinh ra những điệu hò khoan, những câu hò máy đẩy,  âm nhạc trong nghi lễ cầu mưa... thì nay đã không còn điều kiện, môi trường như trước để sản sinh và tồn tại các thể loại âm nhạc đó nữa. Âm nhạc của những thế hệ trước được sinh ra từ trong cuộc sống của người dân với nền tảng là cuộc sống gia đình, làng xóm, quê hương; với nhu cầu phục vụ cho tín ngưỡng, cho lễ hội, phong tục, cho tình yêu, giải trí, và kể cả cho những tập tục lễ nghi cung đình... thì nay đã hoàn toàn thay đổi, âm nhạc đó khó có điều kiện tồn tại trong đời sống người dân đương đại. Điều kiện kinh tế, lao động, sinh hoạt... đã thay đổi. Âm nhạc có thể được khơi nguồn từ nhà máy, từ trường Đại học, từ những chủ đề mới trong cuộc sống. Thậm chí, những nghi lễ đời người như hôn nhân, tang lễ, cúng tế… cũng được hình thành theo kiểu mới, có nhiều chọn lựa và... “mang tính toàn cầu” !

Âm nhạc dân tộc không còn vị trí độc tôn như những thế kỷ trước. Đời sống xã hội đương đại có những yêu cầu mới và có những nội dung mới nhưng mang tính bản chất của thời đại. Khó có thể gìn giữ những điệu hò giã gạo – giao duyên hay những điệu múa hát sắc bùa trong đời sống dân gian hiện nay bởi không gian mới không có nhu cầu cho những thể loại này. Thay vào đó là những thể loại âm nhạc mang tính cơ học, sự thắng thế của kỹ thuật điện tử, âm nhạc mang tính toàn cầu và kể cả tính thực dụng của văn hóa phương Tây.

Tất nhiên, như đã nói trên, với những tiếp thu và biến đổi, những sáng tạo, cái tiến, cải biên…nền âm nhạc dân tộc truyền thống hiện nay đã có một dung mạo mới, nhưng nền âm nhạc dân tộc đó cần phải thể hiện được bản sắc của văn hóa Việt.

Khuynh hướng nhất thể hóa, toàn cầu hóa văn hóa nhân loại khiến nhiều nhà lãnh đạo quốc gia lo ngại. Bởi nó dễ dàng làm gẫy, đổ nền tảng văn hóa, bởi nó có thể xóa hết những bản chất tốt đẹp, tính dân tộc trong mỗi con người. Bởi bản sắc văn hóa, nét riêng của mỗi cộng đồng người, tộc người, của một quốc gia được xem như chủ quyền, như tấm căn cước văn hóa và là nền tảng của sự cố kết cộng đồng, là sức mạnh của dân tộc. Người Nhật, người Triều Tiên biết giáo dục lòng tự hào dân tộc cho công dân, biết giữ gìn đặc điểm văn hóa, thuần phong mỹ tục của họ, xây dựng lòng tự tôn dân tộc, giữ gìn nhân phẩm, ý chí, nâng cao nhân cách của mỗi cá thể theo tinh thần dân tộc… Đến lượt mình, nhân cách, nhân phẩm của mỗi cá nhân sẽ trở thành yếu tố thành công của người Nhật, người Triều trong xây dựng kinh tế, phát triển xã hội.

Âm nhạc dân tộc, truyền thống cũng là một thành tố của nền văn hóa, của bản sắc dân tộc. Âm nhạc dân tộc cần có một vị trí, cần được đưa vào giáo dục, để người dân sáng tạo, cảm thụ… và để phát huy sức mạnh của bản sắc, của tinh thần dân tộc trong mỗi người Việt Nam.

3. Âm nhạc dân tộc, nền Quốc nhạc Việt Nam?

Những nhà văn hóa đã đưa ra những khái niệm “quốc hoa”, “quốc tửu”… tại sao chúng ta, những người làm âm nhạc lại không thể bàn đến nền “quốc nhạc Việt Nam”. Đã nhiều lần chúng ta được biết đến cách tiếp đón các nguyên thủ quốc gia của một số nước theo phong cách truyền thống. Hàn Quốc, Mông cổ,  Malaisia, Brunay… là những quốc gia châu Á có cách đón tiếp nguyên thủ các nước đến thăm bằng dàn nhạc dân tộc cổ truyền chứ không bằng dàn nhạc giao hưởng hay dàn kèn đồng quân đội (Fanfare de cuivres). Không kể một số nước khác có chế độ quân chủ lập hiến lại đón tiếp khách quốc tế bằng dàn nhạc cung đình cổ truyền…

Bảo tồn vốn di sản âm nhạc dân tộc cổ truyền không chỉ vì nền âm nhạc nước nhà mà còn mang ý nghĩa và tác dụng lớn hơn. Âm nhạc được sáng tạo với đầy đủ chức năng, vai trò của một sản phẩn văn hóa – xã hội, do đó, nó thể hiện cấu trúc văn hóa – xã hội mà nó được sinh ra. Người xưa nói “Thẩm nhạc vi tri chính” (thẩm định – nghe âm nhạc có thể biết được chính trị)[1]. Một nền âm nhạc mất gốc, lai căng không chỉ tạo tiền đề xấu cho bản thân nền âm nhạc mà còn tác động đến văn hóa, xã hội, đến nền chính trị của nước đó theo quan niệm của người xưa.

Nếu chưa có thể bàn đến chuyện lớn như việc định hình một nền “quốc nhạc” hoặc việc đánh giá những thay đổi văn hóa – xã hội theo chiều hướng tiêu cực mà có sự góp phần của các loại sản phẩm âm nhạc xấu… chúng ta nên bắt đầu  nói đến những việc nhỏ mà Hội, những người làm âm nhạc có thể làm, vì nền âm nhạc dân tộc:

- Hãy có những chủ trương, đầu tư, khuyến khích cho việc sưu tầm, nghiên cứu và phục hồi vốn âm nhạc cổ truyền, âm nhạc dân tộc. Tiếp đó là công tác bảo tồn, “bảo tồn sống” trong đào tạo, trong biểu diễn, trong phổ cập học đường…

- Đài truyền hình, đài phát thanh, hệ thống truyền thông đại chúng sẽ là những phương tiện hữu hiệu để đưa âm nhạc dân tộc, truyền thống trở lại với công chúng.

- Hãy thay đàn orgue bằng các nhạc cụ dân tộc trong đào tạo giáo viên âm nhạc tại các trường Phổ thông, trong giảng dạy cho các em và trong các hoạt động cộng đồng khác.

Tóm lại, thay cho những toan tính vĩ mô, nền âm nhạc dân tộc cần được sự quan tâm trước nhất bằng những điều nhỏ nhất. Tuy nhiên, không còn sớm nữa cho những người làm âm nhạc, chúng ta có quyền và hãy nghĩ đến một nền âm nhạc dân tộc truyền thống - “nền quốc nhạc Việt Nam”. Tại sao không?


[1] Nhạc Ký – Kinh Lễ (Khổng Tử)

Ý kiến bạn đọc

Lê Xuân Hoan

"Ngay từ năm 1943, Đảng và nhà nước đã có quan điểm và định hướng về văn hóa nói chung và âm nhạc dân tộc truyền thống nói riêng (thông qua đề cương Văn hóa năm 1943)". Mỹ Liên ơi, có lẽ Mỹ Liên nhằm chăng? Năm 1943, chúng ta mới có Đảng chứ đã có chính quyền đâu. Ngày 2/9/1945 Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập tại Ba Đình Hà Nội, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việtnam). Đề cương Văn hóa năm 1943, là định hướng chiến lược của Đảng ta về xây dựng một nền văn hóa trong tương lai (khi dành được chính quyền). Đó là nền năn hóa "Dân tộc, khoa học và đại chúng".

Chúc Mỹ Liên vui vẻ trẻ trung và có nhiều bài viết mới hay hơn nữa nhé!

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác