Trang chủ | Thứ năm, 15/11/2018 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 14839312
Trang chủ » Nhạc sĩ

NHẠC SĨ PHÓ ĐỨC PHƯƠNG: 2012 SẼ "TÁI XUẤT GIANG  HỒ"

Thứ tư, 15/02/2012

Phạm Thị Thu Thủy

Vừa gặp, tôi đã nài nỉ trước: Anh ơi hôm nay không nói chuyện bản quyền nữa nhé! Phả một hơi khói thuốc trong cái lạnh đầu xuân Hà Nội, tay lóng ngóng tắt chiếc điện thoại cứ đổ chuông tin nhắn tới tấp, “ông bản quyền” (Giám đốc Trung tâm Quyền tác giả âm nhạc Việt Nam), tác giả của những ca khúc nằm lòng nhiều thế hệ: Những cô gái quan họ, Hồ trên núi, Huyền thoại Hồ núi Cốc, Chảy đi sông ơi, Trên đỉnh phù vân, Về quê…, cười tủm tỉm: Mình sắp tái xuất giang hồ rồi!

Tôi háo hức: Cụ thể thế nào ạ?

Ông vừa say sưa vừa chậm rãi: Cũng định “tái xuất” 3-4 năm rồi đấy. Đã năm lần bảy lượt hứa với các đoàn (các đoàn nghệ thuật phía Bắc, hầu hết trong số này từng “sống” bằng nguồn nhạc Phó Đức Phương, từ nhạc cho múa đến nhạc cho kịch), nhưng chưa ngừng được gian truân và giông bão trong công việc này (tức việc bản quyền) nên chưa dứt được mà đi. Đến tháng 4 năm nay là chẵn 10 năm TT Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam chính thức ra đời. Thời gian tới, khi TT đi vào hoạt động theo một “đường ray” ổn định, tôi sẽ chỉ còn chịu trách nhiệm trong những hoạch định lớn về tổ chức, định hướng, chiến lược hoạt động, v.v..., như một Chủ tịch HĐQT chẳng hạn, lúc đó tôi sẽ có điều kiện để trở lại với sáng tác.

Khó có thể tưởng tượng một nhạc sĩ tài danh, nổi tiếng hiền lành lại từng "sửng cồ" suýt nữa thì "thượng cẳng chân hạ cẳng tay" với cả một bầu sô khét tiếng "mafia" trong làng showbiz phía Bắc để đòi tiền tác quyền. Ảnh: Nguyễn Đình Toán

* Anh có tự đặt cho mình câu hỏi: Phó Đức Phương sẽ trở lại với công chúng như thế nào sau 12 năm “rửa tay gác kiếm”? Liệu khi đó sẽ có thêm một Chảy đi sông ơi mới, một Trên đỉnh phù vân khác hay sẽ chỉ là một bóng mờ của những hào quang cũ? Công chúng âm nhạc ngày nay cũng khác nhiều so với mươi năm về trước.

- Trở lại sáng tác với tôi lúc này tức là lại bước vào giai đoạn khổ ải và đầy kịch tính. Làm thế nào để đồng hành và chiếm được vị trí trong công chúng, đặc biệt là công chúng trẻ - đó là điều hết sức ngặt nghèo và khó khăn với người sáng tác ở thế hệ tôi. Hoặc sẽ vẫn là một Phó Đức Phương của Trên đỉnh phù vân, của Chảy đi sông ơi nhưng “mẫu mã” hình thức trẻ trung, hòa hợp với công chúng âm nhạc hiện nay. Hoặc “chấm dứt” Phó Đức Phương để chuyển sang một Phó Đức Phương hoàn toàn mới.

Bản thân tôi cũng cảm thấy hồi hộp với cuộc “tái hội nhập” này. Hồi hộp nhưng hy vọng, bởi đời tôi cũng đã từng trải qua giai đoạn tương tự. Quãng 1995-1996, sau hơn 10 năm “quên” viết ca khúc, chỉ tập trung làm nhạc cho sân khấu và nhạc phim, một lần ngồi với Nguyễn Cường (nhạc sĩ), tôi nói mình sẽ trở lại với ca khúc. Cường có vẻ không tin, bảo: Tuổi chúng mình giờ này có gì thì đã cống hiến hết cả rồi! Nghe thế cũng hơi hoang mang. Nhưng rồi năm 1997 có Trên đỉnh phù vân, Chảy đi sông ơi, Không thể và có thể. Năm 1998 có Về quê… Hơn 10 năm, chính xác là 15 năm “cách ly” ca khúc, song khi trở lại, Phó Đức Phương vẫn có thể “tái hội nhập”, có thể đồng hành với đời sống ca khúc những năm 1997-2000. Vậy nên tôi hy vọng cuộc tái hòa nhập tới đây sẽ lặp lại tình thế của những năm 1995-1996.

Dù mới chỉ rất mơ hồ về cuộc “tái hội nhập 2012” trong lúc cơn sóng ca khúc để xem hơn để nghe và ca sĩ thích hở hơn thích hát đang ào từ năm 2011 sang 2012, song tôi không thể không tin vào sự quả quyết đầy thơ ngây nhưng cũng đầy quyết liệt của ông. Hơn nửa thế kỷ trước, chàng trai dòng dõi nhà Phó Đức (Phó Đức Phương là cháu nhà chí sĩ cách mạng Phó Đức Chính) đã dấn thân vào con đường âm nhạc cũng bằng sự thơ ngây và quyết liệt. Nay gần bước vào tuổi thất thập, sự quyết liệt và thơ ngây ấy dường như vẫn y nguyên…

***

Nhạc sĩ Phó Đức Phương sinh năm Giáp Thân, 1944, tại Hà Nội. Thuở nhỏ, hè nào ông cũng được mẹ đưa về quê ngoại Bắc Ninh. Tuổi thơ được nuôi dưỡng bởi không khí làng quê cùng những làn dân ca quan họ, có lẽ là nguyên do để ông viết ca khúc Những cô gái quan họ khi vừa thi đậu vào trường nhạc. Bài hát đoạt giải Nhì (không có giải Nhất) trong cuộc thi vận động sáng tác ca khúc của tỉnh Hà Bắc năm 1965, dịu dàng như một dải lụa trong những ngày sục sôi ca khúc chiến đấu, chính thức ghi tên Phó Đức Phương trong lòng công chúng yêu nhạc cả nước. Ông cũng là người thành danh sớm nhất trong nhóm “tứ quái Hà Nội” gồm Nguyễn Cường, Dương Thụ, Trần Tiến và Phó Đức Phương. Năm 1971, khi Phó Đức Phương tốt nghiệp trường nhạc, thì Dương Thụ, Trần Tiến, Nguyễn Cường mới lục tục vào khoa Sáng tác trường này. Thế nhưng suýt nữa thì Phó Đức Phương đã trở thành một thầy giáo Toán-Lý thay vì một nhạc sĩ. Ông kể, ngày ấy mặc dầu đã viết bài hát từ hồi học cấp hai nhưng chưa khi nào nghĩ cuộc đời mình đi theo con đường âm nhạc. Học xong lớp 10, thầy giáo định hướng đi vào sư phạm, ông thấy mình học cũng không xuất sắc gì, chỉ có điểm Toán, Lý cao hơn cả, nên thi vào Sư phạm, khoa Toán-Lý. Vào đại học rồi bắt đầu bén duyên thơ. Bản chất vốn là người đa cảm nhưng rất rụt rè như tự nhận, song với người sinh viên tuổi đôi mươi, thơ lúc đó có sức mạnh không ngờ, “thơ có thể giải phóng con người từ bản chất”. Càng ngày, ý tưởng phải đi theo con đường âm nhạc càng chín dần. Và ý tưởng ấy biến thành hành động quyết liệt sau khi gặp người bạn đồng niên Dương Thụ.

Trong lần đến chúc Tết Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2008). Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Thuở ấy Phương khoa Toán-Lý, Thụ khoa Văn-Sử Đại học Sư phạm Hà Nội, thân nhau vì nhạc. Sau buổi học, cả hai thường cuốc bộ từ khu Mai Dịch về Cầu Giấy để đón xe điện về Hà Nội, họ chỉ nói với nhau về âm nhạc và chia sẻ với nhau những giấc mơ về nghệ thuật. Lúc ấy, Dương Thụ đã nói với bạn mình: Đời tôi đến chết cũng phải đi con đường âm nhạc, dù có phải gian truân đến mấy, dù phải xúc than, đẩy xe bò tôi cũng phải đi. Sự quyết liệt của Dương Thụ trở thành động lực để Phó Đức Phương quyết tâm… bỏ học. Ở đây cần mở ngoặc giải thích cho rõ rằng, thời đó sinh viên không được phép học hai trường hoặc chuyển trường, nếu không sẽ phải đền bù chi phí đào tạo (rất lớn lúc bấy giờ), vì vậy, muốn chuyển sang học trường nhạc, cả hai phải tìm cách “tháo thân” khỏi trường Sư phạm.

Sự đời trớ trêu. Dương Thụ không thể bỏ Sư phạm giữa chừng, bởi vậy mà sau đó, dù hai lần đỗ vào trường nhạc, ông cũng không thể đi trọn con đường mơ ước của mình và đời ông đúng là đã phải trải qua những tháng ngày cùng cực, xúc than, đẩy xe bò… để có thể được sống với giấc mơ cả đời âm nhạc. Còn Phó Đức Phương, ngay từ giữa năm học thứ hai Sư phạm, đã làm đơn xin thôi học để đi lao động với lý do “gia đình khó khăn” và một năm sau thì toại nguyện.

Ở nông trường Cửu Long (Lương Sơn, Hòa Bình), ban đầu Phó Đức Phương được lãnh đạo nông trường giữ rịt lại để làm công tác văn nghệ. Nhưng đầu óc bấy giờ đang ngập tràn tinh thần cách mạng của M.Gorky, rằng, nghệ sĩ muốn nên người phải xộc vào đáy xã hội, phải tôi luyện mới trưởng thành…, ông đòi đi lao động (chăn lợn) bằng được. Cũng nhờ thế, mấy tháng sau, Phó Đức Phương đàng hoàng về Hà Nội nhập học trường Âm nhạc Việt Nam (nếu làm cán bộ văn nghệ nông trường chưa chắc đã được ra đi dễ dàng như thế). Vừa vào trường, ông viết Những cô gái quan họ. Ra trường, năm 1971, ông có Hồ trên núi. Cả hai, cùng với những Huyền thoại Hồ núi Cốc, Một thoáng Tây hồ, Trên đỉnh phù vân, Chảy đi sông ơi, Về quê… sau này, đều là những ca khúc bất hủ trong kho tàng bài hát Việt Nam đương đại. Và đó cũng mới chỉ là một phần trong sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của nhạc sĩ Phó Đức Phương gồm hàng trăm tác phẩm viết cho sân khấu, múa, điện ảnh.

***

Năm 2000, khi ông chấp bút viết bản kiến nghị về vấn đề quyền tác giả và xuôi ngược lấy chữ ký của 200 nhạc sĩ từ Bắc tới Nam, gửi lên Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, thì bạn bè, người thân nhất mực can ngăn. Thời điểm đó, Việt Nam chưa tham gia Công ước Berne, chuyện ăn cắp bản quyền phổ biến và hiển nhiên tới mức chả ai còn thấy lạ, ngay giữa hội thảo quốc tế về Quyền tác giả, đã có người rất uy tín trong giới nghệ thuật cảnh báo: “Cả một cơ quan khổng lồ là Cục Thuế còn không dẹp nổi buôn lậu, trốn thuế nữa là các ông!”, và khẳng định: “Giải quyết chuyện bản quyền ở nước mình phải tới thế kỷ 22!”. Thời điểm đó, những người bạn âm nhạc của ông, ký vào bản kiến nghị cho vui lòng bạn là chính chứ chả ai tin tờ giấy kiến nghị với mấy chữ ký có thể làm nên trò trống gì, chưa kể khởi xướng và đứng mũi chịu sào công việc tày trời này lại là người hiền lành đến lơ ngơ, mà nhạc sĩ Nguyễn Cường vẫn gọi đùa là “ú ớ”! Người thân thì bảo thẳng: Tôi chờ đợi những tác phẩm âm nhạc của anh hơn là chuyện quyền tác giả! Tranh luận mãi bất phân thắng bại, “lý sự cùn” của ông là: “Mệnh của tôi nó thế! Mệnh bảo tôi phải mất 1 giáp (12 năm) khổ ải trên con đường này”. Từ một bản kiến nghị với 200 chữ ký, tháng 4/2002 TT Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam do nhạc sĩ Phó Đức Phương làm giám đốc ra đời, năm 2010 TT thu về 32 tỷ đồng tiền bản quyền âm nhạc, năm 2011 dự kiến thu khoảng 42 tỷ đồng…

Phút vui vẻ bên bạn văn nghệ. Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Khó có thể tưởng tượng một nhạc sĩ tài danh, nổi tiếng hiền lành, thay vì ngồi bên cây đàn và bản nhạc, là soạn thảo hàng trăm đơn thư, kiến nghị gửi đủ các cấp ban ngành, là lóc cóc gõ cửa mọi phòng ban, dám “đấu” cả với lãnh đạo cấp cao của cơ quan quản lý Nhà nước, “sửng cồ” suýt nữa thì “thượng cẳng chân hạ cẳng tay” với một bầu sô khét tiếng “mafia” trong làng showbiz phía Bắc, lên tận sân khấu Nhà hát Lớn trước giờ biểu diễn để đòi tiền tác quyền… Người bị chê “ú ớ” nhất trong “tứ quái Hà Nội” sau hơn 10 năm vác tù và hàng tổng giờ này một mình lái xe (hơi) ào ào (khả năng lái xe có thể sánh ngang Trần Tiến, hơn đứt Nguyễn Cường và Dương Thụ), nói tiếng Anh chưa tới mức như gió nhưng cũng đủ để cầm chịch những cuộc gặp gỡ quốc tế và làm MC cho chương trình giao lưu văn nghệ với bạn bè nước ngoài trên Hồ Tây! Mấy năm gần đây ông còn phát hiện ra mình có thêm một số khả năng bất ngờ khác nữa như có thể thức tới 5 giờ sáng để coi phim hành động và võ thuật Hollywood, không kìm hãm được sự sung sướng “khi uống rượu có thể bắt nạt cả các hảo hán trong giới nghệ thuật và chốn giang hồ”!

***

Nếu như cuộc đời có thể lập trình, thì với Phó Đức Phương, cuộc đời luôn đẩy ông tới những tình thế “bỗng dưng thành người hùng”, đã bộc lộ một cá tính, một nhân cách riêng biệt. Một Phó Đức Phương thờ ơ, thậm chí lơ ngơ với mọi việc, hiền lành, thậm chí rụt rè trong mọi quan hệ, bỗng chốc có thể trở nên mạnh mẽ, rõ ràng, quyết liệt và dám đương đầu tới cùng.

Lứa học sinh trường Nguyễn Trãi 3 (Cửa Bắc, Hà Nội) cuối những năm 1950 nhiều người còn nhớ buổi chào cờ “lịch sử”, khi tiết mục hát Quốc ca của hàng ngàn học sinh toàn trường có nguy cơ bị “vỡ”, đến nửa bài chả còn ai hát, thì duy nhất, một giọng nam đơn ca lẻ loi giữa sân trường, do ý thức được tình thế, vẫn một mình kiên cường hát đến câu cuối cùng. “Học sinh cá biệt”, “người hùng của buổi chào cờ” đó chính là Phó Đức Phương, khi ấy mới 13 tuổi. Mười năm sau, cậu sinh viên năm thứ ba trường Âm nhạc Việt Nam cũng làm “đứng tim” nhiều bạn bè cùng lứa vì phát biểu “không giống ai” trong hội nghị sinh viên “đấu tố” Tôn Thất Triêm (anh ruột nữ nghệ sĩ Tôn Nữ Nguyệt Minh) lúc bấy giờ cũng đang là sinh viên của trường. Tự ý đánh bản nhạc không theo sự chỉ dẫn của giáo viên trong buổi thi tốt nghiệp, “tội” của Tôn Thất Triêm bị quy chụp tới mức cho rằng mang tính chất giai cấp và đã có đề nghị đuổi khỏi trường, gửi thông báo kỷ luật tới tất cả các đoàn nghệ thuật (bị kỷ luật này nghệ sĩ xem như “hết đường sống”). Cậu sinh viên năm thứ ba Phó Đức Phương ý thức được hoàn cảnh hiểm nghèo của bạn mình đã đứng lên phát biểu trong hội nghị, rằng đây chỉ là một sai sót trong quá trình chuẩn bị thi cử, nên phê bình, nhưng phê bình để giúp người có lỗi sửa chữa chứ không phải khiến bạn mình không ngóc đầu lên được! Về sau Tôn Thất Triêm chỉ bị cảnh cáo. Gần 20 năm sau, ông lại một mình “bảo vệ” Trần Tiến và Trịnh Công Sơn trong cuộc họp Ban chấp hành Hội Nhạc sĩ khóa 3 về việc kết nạp thành viên mới. Giữa lúc Trần Tiến bị coi là “làm nhạc trẻ theo đuôi Sài Gòn”, còn Trịnh Công Sơn bị xem là “tàn dư của quá khứ”, thậm chí, một nhạc sĩ người dân tộc, thành viên Ban chấp hành Hội, còn đưa ra dẫn chứng: “Ở địa phương tôi, những đối tượng bị theo dõi, cần giáo dục, toàn thích nhạc Trịnh Công Sơn” (!), ông không ngại đưa ra ý kiến riêng của mình: “Không có những người như Trần Tiến, Trịnh Công Sơn thì công chúng TP.HCM hát gì nếu không phải là nhạc tiền chiến, nhạc vàng? Trịnh Công Sơn thừa sức ra khỏi đất nước, nhưng anh ấy đã lựa chọn ở lại, hồ hởi viết những bài hát mới hòa nhập với cuộc sống ở đây. Hội Nhạc sĩ phải mở cửa với họ…”. Trong cuộc sống riêng tư cũng thế, nhưng đó lại là một “góc khuất” khác.

Và đương nhiên, trong “lập trình” ấy của cuộc đời, phải có đoạn Phó Đức Phương “bỏ” viết nhạc đi đòi tác quyền âm nhạc, và sẽ có đoạn ông “tái xuất giang hồ”. Tôi không thể không tin vào điều ấy.

Nhạc sĩ Nguyễn Cường: Phương tài hoa.

Nguyen-CuongresizeÂm nhạc đặc sản. Con người của đặc sản. “Véc-tơ âm nhạc” của Phương có gốc dân gian, chiều hướng ra hiện đại. Còn tôi thì ngược lại. Tuy nhiên đôi khi chúng tôi vẫn nói đùa là trong nhà Phương có nhiều đồ cổ nhưng nhiều khi có thứ “vớ vẩn” cũng được Phương quý như món đồ ngàn năm. Có những bài Phương viết tôi bái phục, như Hồ trên núi chẳng hạn, nhưng Phương lại không cho là như thế…

 

 

 

 

Ca sĩ Mỹ Linh: Cộng tác với nhạc sĩ Phó Đức Phương, tại sao không?

my linhTrong 4 diva, chỉ có Thanh Lam và Mỹ Linh hát và thành công tới mức trở thành dấu ấn khó thay thế với nhạc Phó Đức Phương. Với Thanh Lam là Hồ trên núi, Một thoáng Tây hồ, Không thể và có thể, còn với Trên đỉnh phù vân thì không ai khác ngoài Mỹ Linh. Đặc biệt, với Mỹ Linh thì Trên đỉnh phù vân còn là dấu mốc đáng nhớ cho cuộc thăng hạng ngoạn mục của nữ ca sĩ, năm 2007, trong chương trình Duyên dáng Việt Nam 5. Song Trên đỉnh phù vân lại cũng từng là “hố đen” trong quan hệ giữa tác giả ca khúc và ca sĩ thể hiện. Vì cho rằng Mỹ Linh hát không đúng một số nốt mà không chịu sửa, nhạc sĩ Phó Đức Phương quyết tâm đi tìm một giọng ca khác, mà ông cho là hoàn hảo cho ca khúc này - ca sĩ Hồng Hạnh, nhưng khán giả lại từ chối sự thay thế này. Còn Mỹ Linh thì bị gắn mác “chảnh” với tuyên bố “Muốn nổi tiếng thì đưa bài hát cho tôi”.

Sự thực là ca khúc Trên đỉnh phù vân đã “đến tay” Mỹ Linh như thế nào? Có hay không chuyện ca sĩ Mỹ Linh và nhạc sĩ Phó Đức Phương “mâu thuẫn” vì mấy nốt nhạc? Năm 1996, nhạc sĩ Phó Đức Phương chọn Mỹ Linh để gửi gắm hai ca khúc: Trên đỉnh phù vân (viết cho vở Yêu trên đỉnh phù vân của Đoàn kịch Hải Phòng) và Chảy đi sông ơi (vở Thuyền lá của Nhà hát Kịch Việt Nam). Theo ông, đoạn dạo đầu của Trên đỉnh phù vân đã bị Mỹ Linh “lái” theo kiểu hát ca trù vốn không phải chủ ý của người sáng tác, vì vậy mà ông tìm đến Hồng Hạnh. Sau này ông thừa nhận: “Hồng Hạnh sửa được vài nốt nhưng không lại bằng sự hấp dẫn của Mỹ Linh”. Mỹ Linh xác nhận nhạc sĩ Phó Đức Phương là người nghiêm túc, kỹ tính, song bản thân cô cũng là người ương bướng, bảo vệ ý kiến của mình tới cùng nếu thấy nó không sai và với Linh, khi thể hiện bài hát, ca sĩ phải là người sáng tạo một lần nữa. “Đó chỉ là chuyện hai chú cháu hơi bất đồng một tí, và chuyện này cũng qua rất nhanh” - cô khẳng định.

Vậy liệu có một sự kết hợp trở lại giữa giọng hát Mỹ Linh và âm nhạc Phó Đức Phương không, khi thời gian gần đây người ta thấy Mỹ Linh đã hát lại Trên đỉnh phù vân (trong chương trình Điều còn mãi và trong đêm nhạc của Nguyên Lê) vẫn đầy uy lực và sự quyến rũ? “Sao lại không nhỉ?”. Mỹ Linh cho biết cách đây vài tháng, nhạc sĩ Phó Đức Phương đã cho vợ chồng Mỹ Linh - Anh Quân nghe bài hát mới của ông, Nao nao Thác Bà (Đỗ Bảo phối khí, nhóm M For You thể hiện) và cả hai đều thật sự thấy thích. “Chị tôi, Thì thầm mùa Xuân, Hà Nội đêm trở gió, Trên đỉnh phù vân, Hương ngọc lan…, tất cả đều trên con đường âm nhạc của tôi, chẳng có lý do gì để loại bỏ chúng cả. Mỹ Linh và ê-kíp của mình có thể cộng tác với nhạc sĩ Phó Đức Phương, có thể làm một đĩa nhạc dân gian. Có thể trong năm nay Mỹ Linh sẽ hát với một nghệ sĩ thành danh mà tôi vô cùng yêu quý. Mọi thứ đều rất rộng mở như thông điệp của album Chat với Mozart: Âm nhạc không có biên giới”…

(Nguồn: thethaovanhoa)

Ý kiến bạn đọc

Chính Ngữ

Các nhạc sỹ sáng tác ca khúc của ta từ thời tiền chiến (1930) đến nay hầu hết vẫn chỉ viết phần giai điệu, phần lời thì có người tự viết lời có người phổ thơ.

Còn phần đệm thì thường được giao cho người khác phối, có bao nhiêu người phối thì có bấy nhiêu kiểu "tô mầu" khác nhau. Có người tô đúng có người tô sai, và tác giả phần giai điệu không thể kiểm soát được.

Một bài hát trữ tình, nhưng nếu người phối đưa vào tiết tấu nhanh Disco, Rock vv... sẽ thay đổi toàn bộ vể bản chất nội dung. Trở nên dậm giật, tưng tưng, quay cuồng...vv

Một bài hát viết theo kiểu dân gian nếu người phối đưa vào hoà thanh kiểu Hợp âm ba TSD của châu Âu cũng sẽ làm bài hát đó Tây hoá hoàn toàn.

Vì vậy muốn trở nên chuyên nghiệp, các nhạc sỹ của ta hãy viết phần đệm cố định cho ca khúc của mình để tránh sự tam sao thất bản (Có bao giờ bạn thấy 1 bài hát của Tây, kể cả nhạc pop có 2 phần đệm khác nhau không? không có!)

Mong rằng lần "Tái xuất..." này, Phó Đức Phương sẽ sáng tác những ca khúc mới có đầy đủ cả phần đệm cố định (Thường là bản code bằng piano như nhóm Beatle, hoăc ABBA...)

Đặng Hữu Phúc

Trong bài báo, Thu Thuỷ viết: “đoạn dạo đầu của Trên đỉnh phù vân đã bị Mỹ Linh “lái” theo kiểu hát ca trù vốn không phải chủ ý của người sáng tác, vì vậy mà ông tìm đến Hồng Hạnh. Sau này ông thừa nhận: “Hồng Hạnh sửa được vài nốt nhưng không lại bằng sự hấp dẫn của Mỹ Linh”. Mỹ Linh xác nhận nhạc sĩ Phó Đức Phương là người nghiêm túc, kỹ tính, song bản thân cô cũng là người ương bướng, bảo vệ ý kiến của mình tới cùng nếu thấy nó không sai và với Linh, khi thể hiện bài hát, ca sĩ phải là người sáng tạo một lần nữa.”

Tôi thật sự không hiểu nổi đoạn văn trên, có lẽ chỉ có ở VN ta thời nay mới có việc như thế, một ca khúc thường có khoảng 30 đến 60 nốt nhạc. (Ta lấy tạm một chuẩn là bài “Chiều Mát xơ cơ va” của Xê - Đôi nổi tiếng toàn thế giới, một mẫu mực của ca khúc phổ thông, chỉ có đúng 36 nốt nhạc để ví dụ) Thì “Vài nốt” là có thể thay đổi bản chất bài hát.

Ta hãy tưởng tượng một bài thơ có 36 chữ mà bị thay đổi vài chữ thì sẽ ra sao? Trong một bài thơ, một dấu chấm, một dấu phảy, đều cần phải tuyệt đối tuân thủ bởi nó đều có ý nghĩa, nhiều khi một dấu chấm than (!) trong bài thơ có một ý nghĩa mênh mông, bỏ nó đi, bài thơ có thể mất hoàn toàn ý nghĩa. Một dấu chấm (staccato) trong bản nhạc cũng vậy, bởi người nhạc sỹ đã trăn trở từng dấu chấm với tác phẩm chứ không thể trong một bản nhạc lại có những chỗ “không phải chủ ý của người sáng tác”?

Và mỗi  người biểu diễn cứ theo tầm hiểu biết của mình “là người sáng tạo một lần nữa” thì tác phẩm đó là cái gì nhỉ? có bao nhiêu người biểu diễn thì có bấy nhiêu sự “sáng tạo” ư???

Một bản nhạc cho Dàn nhạc giao hưởng mà cứ tự ý sáng tạo theo người chỉ huy đổi tempo, đổi nốt nhạc, một bản nhạc cho piano mà cứ tự ý sáng tạo theo ý người Pianist “nếu thấy nó không sai”???

Ôi tôi không tưởng tượng được đâu, có lẽ đây là một trường phái nghệ thuật biểu diễn mới! Cái này nên chia sẻ cho thế giới học tập vì chỉ có ở Việt Nam ta!

Việt Nam là một đất nước không giống ai.

Nhạc sỹ vĩ đại bậc nhất TK 20, Igo Stravinsky có câu nói nổi tiếng về biểu diễn, đó là: “Người biểu diễn lớn nhất, là người biết xoá mình trước bản nhạc, lúc biểu diễn chỉ còn duy nhất là tác giả, chứ không phải thể hiện cái mà người biểu diễn cố tình muốn tác phẩm phải có” (Hồi ký đời tôi, Đặng Đình Hưng dịch từ bản tiếng Nga)

Tất nhiên ở đây là những bản nhạc chuẩn mực đỉnh cao của chuyên nghiệp! chứ không phải là những bản nhạc mà người biểu diễn có thể ““lái” theo kiểu hát ca trù vốn không phải chủ ý của người sáng tác”

van anh

Đúng là chỉ có ở VN mới có kiểu phá phách như thế. tôi cũng bị như thế một lần, ca khúc tôi viết cũng được nhiều người yeu thích, có một giáo viên dạy thanh nhạc tại một trường chuyên nghiệp xin bài của tôi để làm bài dạy cho học sinh hát. khi tôi nghe thì ko giống đứa con tinh thần mình sinh ra. ko những thế cả các tác phẩm nổi tiếng của Nga (liên xô cũ) trong giáo trình giảng dạy của các trường âm nhạc cũng bị giáo viên này bóp méo hết, và trưởng khoa thì cho thế là sáng tạo, đổi mới...điều đó chỉ có ở VN.

Chính Tâm

Nói thêm về sự thiếu chuyên nghiệp trong phần đệm cho ca khúc phổ thông ở Việt Nam, đó là: dù nhạc sỹ có viết phần đệm piano thì khi phối, người ta cũng chẳng thèm để ý tới cái phần piano đó, họ chỉ lấy đúng cái giai điệu và phối hoàn toàn theo ý họ, họ chưa có thói quen đó, bởi như thế họ cũng cần có chút hiểu biết âm nhạc để phân tích những cái mà tác giả viết trong bản piano, thế thì khó quá, cứ làm theo những thói quen của mình cho nhanh.

Phần piano chính là bản thiết kế, phần phối là xây cái nhà theo đúng bản thiết kế ấy bằng những chất liệu âm thanh khác (như dàn nhạc nhẹ, dàn nhạc dây, thính phòng…)

Cũng có thể giải thích là các bản viết piano ở VN thường yếu về mọi phương diện, nên họ không theo.

Nhưng vấn đề nghiệp dư ở đây là, cả những bài hát kinh điển của các tác giả vĩ đại trên thế giới, nếu họ phối họ cũng chỉ lấy mỗi cái giai điệu và phối tuỳ tiện theo tầm hiểu biết của họ. Điều này thì không thể chấp nhận được, có thể gọi đó là một sự ngu dốt chỉ có ở VN.

Chữ “Phối khí” không phải là viết mới, mà nó là sự chuyển thể từ bản gốc và phải tuân thủ một cách nghiêm ngặt, không được tuỳ tiện thêm vào những cái cơ bản nhất như Hoà thanh, bè bass, phức điệu…vv (Mẫu mực về phối khí là bản phối từ piano “Những bức tranh triển lãm” của Musorgsky cho dàn nhạc của M.Ravel. trung thành tuyệt đối với bản gốc) http://www.youtube.com/watch?v=hqoamga8744

Tuy vậy khi phối cho dàn nhạc nhẹ có thể thêm vào bộ trống jazz, hoặc một vài màu sắc trên cơ sở hoà âm của bản gốc (Như Paul Mauriat vv… đã làm).

http://www.youtube.com/watch?v=VN0YjyL5PxI

Ta không thể tưởng tượng một bài như Serenade hay Ave Maria của Schubert, “Chèo thuyền” của Tchaikovsky, “Giấc mơ” của Schumann…vv  lại được phối không theo bản gốc piano của các ông , mà chỉ giữ mỗi cái giai điêu, sau đó tương bừa hoà thanh theo tầm hiểu biết của mình, đó là điều “kinh khủng” ngoài sự tưởng tượng với người hiểu biết. Vậy mà CD “Chát với Mozart” đã làm điều đó!

Nhưng ta không nên trách họ vì sự vô nhận biết của họ.

Khi chúa Jesus bị đóng đinh trên thánh giá. Ngài đã kêu lên “Cha ơi (tức chúa trời) hãy tha thứ cho họ (những kẻ đóng đinh), bởi họ làm điều đó trong vô nhận biết, họ không hiểu điều họ làm”

Phương Hạnh

Chính Tâm đã đưa ra những ý kiến  xác đáng, chuyên nghiệp,rất thuyết phục,

Một nhạc sỹ thời Xô-Viết đã nói rằng:1 tác phẩm được sáng tác 3 lần,lần thứ nhất bởi người viết ra nó,lần thứ 2 bởi người biểu diễn,lần thứ 3 bởi người nghe.

Hiểu đúng được câu nói này ,phải là người đúng "chuyên nghiệp"

Học vài năm ở nhạc viện rồi ra hoạt động nghiệp dư ,Vậy là nghiệp dư.Những năm tháng đi học,thực ra nhà trường mới dậy cho chúng ta 1 nền tảng ban đầu và phương pháp để ta tự học cả đời.

Câu chuyện ca sĩ VN sửa bài của nhạc sĩ VN,hay nhạc sĩ VN sửa luôn hòa thanh,phần bass,bỏ luôn phức điệu của Schubert,Schumann,Tschaikovsky là quá" Vô tư Hồn nhiên"

Schubert,Schumann,Tschaikovsky từ trên cao chắc đành tự an ủi theo Khỗng tử:

"Vô tri bất mộ"

yuan yuan

Nhạc sỹ vĩ đại bậc nhất TK 20, Igo Stravinsky có câu nói nổi tiếng về biểu diễn, đó là: “Người biểu diễn lớn nhất, là người biết xoá mình trước bản nhạc, lúc biểu diễn chỉ còn duy nhất là tác giả, chứ không phải thể hiện cái mà người biểu diễn cố tình muốn tác phẩm phải có” (Hồi ký đời tôi, Đặng Đình Hưng dịch từ bản tiếng Nga)

1- Làm sao người biểu diễn dám chắc rằng tác giả muốn gì nếu người biểu diễn không chính là tác giả đang ở trong đúng thời điểm tác phẩm thoát thai? Làm sao người biểu diễn dám chắc rằng mình hiểu và cảm hết tât cả những gì tác giả muốn truyền tải nếu may mắn có sự trợ giúp trực tiếp của tác giả? Với những tác giả đã quá cố, người biểu diễn chưa bao giờ gặp mặt, liệu ai dám chắc rằng những thông điệp họ nhận được ngay cả từ những thầy cô đáng kính của họ là chính xác 100% những gì tác giả mong muốn?

2- Cứ cho là sẽ có người biểu diễn hiểu, cảm và truyền tải hết những gì người sáng tác muốn tác phẩm của mình là đi nữa...thế thì người Việt Nam nên và chỉ nên để cho Anh Sơn chơi Chopin thôi là đủ rồi! Vì nếu có người thứ hai xuất hiện thì người nghe sẽ phân vân liệu đâu là chủ ý của người sáng tác nhỉ? Người nghe sẽ lại càng rối trí đến phát điên lên khi không biết sắp đặt những thế hệ chơi Chopin trước Anh Sơn ở Việt Nam ở chỗ nào đây? Ở đời chẳng có gì đáng thương bằng sống mà làm như đã chết, đáng giận bằng đã chết mà làm như vẫn sống! Ôi thật đáng thương và giận cho người biểu diễn trong tình cảnh hai trong một này!

3- Một tác phẩm như một cô gái, sớm muộn gì cũng phải đi lấy chồng, mà thuyền thì theo lái, gái thì theo chồng. Dâu là con, rể là khách, nhập gia tùy tục. Không ai cấm ở rể nhưng tất nhiên đấy chỉ là một lựa chọn và thường là lựa chọn kém cỏi nhất!

Con người phá phách vì người ta ý thức được sự cầm tù. Điều đó cho dù như thế nào thì cũng còn hay hơn cảm giác tự do, an toàn trong chiếc lồng của định kiến.

Hoa Cải

Hay quá, đây thực sự là một cuộc tranh luận giữa Stravinsky và Yuan Yuan.

Tôi thì quan tâm tới ý kiến của Vân Anh (nghiêng về phe Stravinsky) "trong giáo trình giảng dạy của các trường âm nhạc cũng bị giáo viên này bóp méo hết, và trưởng khoa thì cho thế là sáng tạo, đổi mới...điều đó chỉ có ở VN."

Đặng Hữu Phúc

Khoảng những năm 1981 đến 1986 tôi thỉnh thoảng tới thăm bác Bùi Xuân Phái, bác có nhiều câu nói đơn giản nhưng rất sâu sắc. Một trong những câu mà tôi vẫn còn nhớ ý, đó là: "Anh cứ nghĩ rằng anh không phải là Văn hoá quần chúng, nhưng anh làm mãi Văn hoá quần chúng, rồi nó thấm vào anh và anh trở thành Vua Văn hoá quần chúng lúc nào không biết"

Đúng như chị Phương Hạnh, cựu phó khoa Piano Nhạc viện TPHCM đã viết Học vài năm ở nhạc viện rồi ra hoạt động nghiệp dư, Vậy là nghiệp dư.

yuan yuan

Những ý tưởng của Igor Stravinsky đã bị “hành quyết” ra sao khi Việt hóa?

Cảm ơn Hoa Cải về những suy nghĩ hết sức lành tính! Thật ra tôi không có ý định tranh luận với Igor vì làm như vậy nó không đáng! Tôi chỉ muốn đưa ra một thông điệp rõ ràng: Nghi ngờ cái hiển nhiên đúng là một điều hết sức bình thường. Tôi nghi ngờ rằng người dịch đã chưa chuyền tải hết ý nghĩa của những gì Igor nói. Với một nhân cách đặc sắc như vậy Igor không thể nào tầm thường hóa nghệ sỹ biểu diễn đến thế. Những nhân cách lớn không bao giờ biến người khác thành công cụ! Vì ở đời chẳng có gì mất nhân tính hơn là biến người khác thành công cụ, cho dù với một mục đích đầy tình người đến đâu!  Đọc đoạn trích dẫn tôi cảm thấy mình rơi tõm vào một phân xưởng may mà ở đó các công nhân – tôi muốn ám chỉ những nghệ sỹ biểu diễn -  đang cố gia công những thứ khó nhá mà người lao động các nước phát triển không thèm làm. Cố gắng chiều lòng, hiểu ý của ông chủ để trông chờ đồng lương chết đói!

Và đây, mời Hoa Cải chứng kiến cảnh những người biết tiếng Việt đã “hành quyết” những ý tưởng của Igor ra sao! Tôi lấy qua từ điển danh ngôn, xin lượng thứ vì đường dẫn lỗi nên chưa paste ra đây được. Với thứ tiếng Mỹ hạng bét của tôi mà còn không tiêu hóa nổi, huống hồ....

Cũng giống như có ăn thì mới ngon miệng, công việc đem lại cảm hứng, nếu cảm hứng không cảm nhận được ngay từ đầu.

Just as appetite comes from eating, so work brings inspiration, if inspiration is not discernible at the beginning.

Chính là một đặc điểm của tự nhiên mà chúng ta thường cảm thấy gần gũi với những thế hệ xa xưa hơn là thế hệ ngay trước chúng ta.

It’s one of nature’s ways that we often feel closer to distant generations than to the generation immediately preceding us.

Âm nhạc đến với chúng ta chỉ với một mục đích duy nhất, thiết lập trật tự, bao gồm và đặc biệt bao gồm mối liên hệ giữa con người và thời gian.

Music is given to us with the sole purpose of establishing an order in things, including, and particularly, the coordination between man and time.

Tôi sống trong hiện tại. Tôi không biết được tương lai sẽ mang đến điều gì. Tôi chỉ biết được sự thật ngày hôm nay. Đó là điều tôi viện tới để phụng sự, và tôi đem nó phụng sự với tất cả sự rõ ràng.

I am in the present. I cannot know what tomorrow will bring forth. I can know only what the truth is for me today. That is what I am called upon to serve, and I serve it in all lucidity.

Tiền bạc có thể nhen nhóm, nhưng nó không thể tự mình cháy, và cháy rất lâu.

Money may kindle, but it cannot by itself, and for very long, burn.

Chính Định

Yuan Yuan viết: "Tôi nghi ngờ rằng người dịch đã chưa chuyền tải hết ý nghĩa của những gì Igor nói"

Lưu ý yuan yuan đấy là bản dịch từ tiếng Nga của Đặng Đình Hưng, thân sinh Đặng Thái Sơn. Chúng tôi có bản gốc chép tay của Đặng Đình Hưng

Nguyễn Đình Đăng

[“Người biểu diễn lớn nhất, là người biết xoá mình trước bản nhạc, lúc biểu diễn chỉ còn duy nhất là tác giả, chứ không phải thể hiện cái mà người biểu diễn cố tình muốn tác phẩm phải có” (Hồi ký đời tôi, Đặng Đình Hưng dịch từ bản tiếng Nga)] (sic)

Đoạn trích dẫn thượng dẫn về người biểu diễn  không chính xác (không rõ do người dịch hay người trích dẫn).

"Chronicles de ma vie" (Những sự kiện của đời tôi) là nguyên văn tên cuốn sách của Igor Stravinsky viết bằng tiếng Pháp về các sự kiện trong đời mình (xuất bản năm 1935). Cuốn sách này đã được dịch ra tiếng Anh (năm 1936, tái bản 1958) tựa đề "An autobiography" (Tiểu sử tự thuật), và tiếng Nga tựa đề И. Стравинский "Хроника моей жизни" (I. Stravinsky "Sự kiện đời tôi") (năm 1963. Tái bản năm 2005 có tham khảo bản dịch tiếng Anh).

Nguyên văn đoạn này như sau:

"Music should be transmitted and not interpreted, because interpretation reveals the personality of the interpreter rather than that of the author, and who can guarantee that such an executant will reflect the author's vision without distortion?

An executant's talent lies precisely in his faculty for seeing what is actually in the score, and certainly not in a determination to find there what he would like to find."

có nghĩa là:

"Âm nhạc phải được truyền tải chứ không phải được diễn xuất, bởi vì diễn xuất bộc lộ cá tính của người biểu diễn hơn là cá tính của tác giả, ai dám bảo đảm rằng một người biểu diễn như thế sẽ phản ánh không méo mó cách nhìn của tác giả?

Tài năng của ng
ười biểu diễn chính là nằm khả năng nhìn thấy những gì thực sự có trong bản nhạc, ch nhất định không phải là quyết tâm tìm thấy trong bản nhạc những gì anh ta muốn tìm."

Cũng trong cuốn sách này, Stravinsky còn viết như sau:

"The interpreter of necessity can think of nothing but interpretation, and thus takes on the garb of a translator, traduttore-traditore; this is an absurdity in music, and for the interpreter it is a source of vanity inevitably leading to the most ridiculous megalomania."

có nghĩa là

"Người diễn xuất dĩ nhiên không thể nghĩ tới cái gì khác ngoài việc diễn xuất, và thế lại là chạy theo thói quen của người diễn dịch, phiên dịch tức là phản bội;  đó là điều ngu xuẩn trong âm nhạc, và đối với người biểu diễn đó là nguồn gốc của tính kiêu căng hợm hĩnh, tất yếu dẫn đến sự hoang tưởng lố bịch nhất."

yuan yuan

@ Anh Đăng.

Cảm ơn anh vì đã giải tỏa băn khoăn của tôi. Tôi học hỏi được ở Anh rất nhiều trong cách chuyển ngữ, trong cách dùng tiếng Việt.

@ Anh Chính Định.

Có mấy từ khóa trong đoạn trích mà tôi thấy gờn gợn buộc lòng phải cân nhắc: “xóa mình” “Đặng Đình Hưng” “tiếng Nga”.

Muốn hiểu người ta nói gì thì phải đặt vào bối cảnh: “xóa mình” trong tiếng Việt khá mơ hồ, nhưng với thế giới Tây phương thì khái niệm “ cái mình” “cái tôi” là rất rõ ràng và được nghiên cứu khá tỷ mỉ. Quay lại thế kỷ trước, người ta đối đầu nhau không chỉ bằng vũ khí mà còn cả học thuyết. Nghiên cứu về tâm sinh lý người ở Nga xô có Pavlov là đầu tầu, Phương tây có S.Freud là chủ soái. Một người Nga khi nói một câu tiếng Nga khi còn ở Nga sẽ có nhiều khác biệt  với chính người đó nói câu như vậy ở Mỹ cho dù vẫn bằng tiếng Nga. Tại sao vậy? Bởi vì thế giới quan và nhân sinh quan của họ đã khác đi. Để dễ hiểu: Anh Sơn bây giờ có nói điều gì bằng tiếng Việt thì cũng chưa chắc tất cả những người biết tiếng Việt đều hiểu như anh ấy muốn.

Anh Sơn là một nhân tài của Việt Nam, thời của chúng tôi khi mà “ăn cái gì thì ra cái đó” – ý tôi là bo bo- Trong trí não của chúng tôi chỉ có một là Anh Sơn – người từ trên trời rơi xuống đất, hai là Anh Tuân – người từ dưới đất bay lên trời. Những người này động viên chúng tôi rất nhiều trong cuộc sống vì ít ra cũng còn có trời có đất để mà bám vào!

Tài năng của Anh Sơn hội nhập từ những yếu tố nào? Làm sao người Việt có thế có được một Anh Sơn thứ hai và nhiều nữa? Người ta đổ cho nhiều thứ nhưng chưa ai đánh giá hết được vai trò, và hiệu quả của người Cha đối với Anh Sơn ra sao. Tôi quan tâm đến Anh Sơn một thì quan tâm đến người cha của anh ấy mười – vì đó là nơi mà nhân tài được sinh ra!

Bác Hưng là người đáng kính. Nhưng trình độ tiếng Nga của bác ấy có giỏi đến mấy thì cũng không thể lột tả hết được những gì tác giả muốn nói trong bối cảnh xung đột về ý thức hệ như vậy. Phần mềm không tương thích đương nhiên sẽ tạo ra lệch lạc.

Trân trọng!

Xem trang kế tiếp: 1 2

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Các bài viết khác