Notice: Undefined index: unique_hit in /home/webapp/hns_version2/domains/hoinhacsi.org/public_html/index.php on line 19 GIÁ TRỊ CỦA ÂM NHẠC DÂN GIAN VỚI CHỦ THỂ SÁNG TẠO TÁC PHẨM KHÍ NHẠC MỚI VIỆT NAM THẾ KỶ XX | Luận bàn
Trang chủ | Thứ bảy, 22/11/2014 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 10690734
Notice: Undefined variable: result in /home/webapp/hns_version2/domains/hoinhacsi.org/public_html/models/models.php on line 483
Trang chủ » Luận bàn

GIÁ TRỊ CỦA ÂM NHẠC DÂN GIAN VỚI CHỦ THỂ SÁNG TẠO TÁC PHẨM KHÍ NHẠC MỚI VIỆT NAM THẾ KỶ XX

Thứ tư, 15/02/2012

Trịnh Hoài Thu

nhaccucotruyenSo với các nước trên thế giới, âm nhạc dân gian Việt Nam cũng rất phong phú, đa dạng và có nhiều đặc điểm riêng. Âm nhạc dân gian Việt Nam gắn bó mật thiết với cuộc sống của tất cả các dân tộc Việt Nam, dàn trải theo chiều dài đất nước. Tới bất cứ nơi nào của Tổ quốc, chúng ta đều có thể thấy được bóng dáng âm nhạc dân gian ẩn chứa trong đời sống của mỗi gia đình, mỗi làng quê, mỗi vùng miền và nhất là trong tâm thức của mỗi người dân đất Việt. Trong không gian văn hóa các dân tộc miền núi phía Bắc (bao gồm cả Tây Bắc và Việt Bắc) luôn vang lên những câu hát “Sli”, “Lượn”, “Then” của người Tày - Nùng; tiếng hát “Khắp” của các chàng trai cô gái Thái; hát “Rang” của người Mường; tiếng sáo dặt dìu gọi bạn của trai bản Hmông; những điệu múa “Xoè”, múa “Sạp”, múa “Khèn”, múa “Bông” hòa cùng tiếng đàn tính tẩu, tiếng kèn môi, khèn bè, cồng chiêng... Vùng văn hoá châu thổ Bắc Bộ với địa lý nằm giữa lưu vực sông Hồng và sông Mã, là tâm điểm chính của con đường giao lưu hai miền Bắc - Nam cũng là một cái nôi hình thành nên dân tộc Việt. Âm nhạc dân gian nơi đây mang những đặc điểm vùng miền đậm nét, tiêu biểu với các thể loại: Hát Quan họ, Hát Xoan, Hát Ghẹo, Hát Trống quân, Hát Chầu văn, Hát Chèo, Hát Đúm, Hát Ví, Hát Đò đưa...Vùng văn hoá Trung bộ lại nổi tiếng với những điệu Hát Ví, Hát Giặm, Hát Hò của Nghệ An - Hà Tĩnh; những điệu “Lý”, điệu “Hò” của xứ Huế mộng mơ; Hát Bài Chòi của Quảng Bình - Quảng Trị - Thừa Thiên... Trên con đường nam tiến mở rộng bờ cõi của cha ông ta, những vùng đất mới và những thể loại âm nhạc dân gian mới lại xuất hiện điển hình như: Vùng văn hoá Tây Nguyên với âm nhạc cồng chiêng, âm nhạc tre nứa mang những đặc trưng có từ thời văn hoá Đông Sơn, những làn điệu dân ca của các dân tộc ở Tây Nguyên mang nhiều màu sắc tinh tế của nghệ thuật âm nhạc Đông Nam Á... Vùng văn hoá Nam Bộ với những điệu Hò sông nước mênh mang, điệu Lý đằm thắm trữ tình, những câu ca Vọng cổ da diết sâu sắc, những làn điệu dân ca Khơ-me, dân ca Chăm mang đậm bản sắc dân tộc. Điểm sơ vài nét như vậy để chúng ta thấy được phần nào diện mạo phong phú và đa dạng của âm nhạc dân gian Việt Nam - nguồn chất liệu phong phú cho sự sáng tạo nghệ thuật mới của người nhạc sĩ, nghệ sĩ (tạm gọi họ là chủ thể sáng tạo). Chất liệu (material) âm nhạc dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam khi được phân tích cụ thể ở phương diện diễn tả âm nhạc sẽ đi vào các vấn đề như: giai điệu chủ đề, âm hưởng, tiết tấu, nhịp điệu, thang âm điệu thức, âm sắc nhạc cụ dân gian. Tuy nhiên, khi tiếp cận việc khai thác sử dụng các chất liệu dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam thế kỷ XX ở lĩnh vực văn hóa, ta có thể xem xét dưới hai góc độ.

Góc độ thứ nhất: đó chính là sự tiếp nhận nguồn chất liệu dân gian mang phản xạ tự nhiên của chủ thể sáng tạo. Từ khi sinh ra và lớn lên, mỗi người dân Việt Nam dù ở miền xuôi hay miền ngược đều được nuôi dưỡng trong kho tàng âm nhạc dân gian. Do đó, âm nhạc dân gian là một phần rất đỗi quen thuộc, ngấm sâu trong tâm hồn của người Việt Nam. Vì âm nhạc dân gian in sâu trong tâm thức mỗi người như vậy, nên khi sáng tạo tác phẩm khí nhạc mới, những âm hưởng dân gian đã xuất hiện một cách ngẫu nhiên và nó hoàn toàn vô thức trong tác phẩm, nằm ngoài chủ ý của tác giả. Điều này thể hiện yếu tố khúc xạ tự nhiên của văn hoá dân gian nói chung và âm nhạc dân gian Việt Nam nói riêng trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Chúng ta biết rằng, nói đến nghệ thuật dân gian là nói đến tính lưu truyền mà điển hình là truyền khẩu (truyền miệng). Mỗi lần truyền miệng như vậy cũng là thêm một lần sáng tạo. Điều này lý giải vì sao chúng ta khó tìm được bài bản gốc của mỗi bài dân ca. Cho nên, việc diễn tả chất liệu dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam một cách vô thức cũng có thể được coi là một lần truyền bá chất liệu âm nhạc dân gian Việt Nam trong con mắt của người đương thời.

Góc độ thứ hai: là sự tiếp nhận nguồn chất liệu dân gian theo chủ ý của người sáng tác. Người tạo ra tác phẩm khí nhạc mới mong muốn khai thác chất liệu âm nhạc dân gian dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm làm cho tác phẩm mang màu sắc dân gian của một nơi nào đó mà họ muốn diễn tả. Điều này cho thấy tính logic chặt chẽ trong kết cấu tác phẩm, có ý đồ sáng tạo riêng mà người sáng tác muốn truyền tải trong tác phẩm.

Mặc dù có thể chia làm hai góc độ tiếp nhận nguồn chất liệu dân gian trong tác phẩm khí nhạc mới Việt Nam, nhưng về cơ bản,  cả hai góc độ này đều có điểm chung là sự thể hiện bản sắc dân tộc cho tác phẩm âm nhạc mới. Một góc độ do tự nhiên có sẵn đã hiện hữu trong tác phẩm qua các ngôn ngữ biểu hiện của âm nhạc, còn một góc độ do ý đồ sáng tạo của tác giả phải có và đó chính là mối quan hệ gắn bó giữa âm nhạc dân gian Việt Nam với tác phẩm khí nhạc mới. Nói cách khác, đó là chính là sự giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa âm nhạc phương Đông và âm nhạc phương Tây. Sự pha trộn màu sắc Đông - Tây không phải là một yếu tố mới trong lịch sử phát triển của nghệ thuật âm nhạc thế giới. Bởi vì lịch sử âm nhạc cũng đã cho thấy dòng âm nhạc chuyên nghiệp cũng được bắt nguồn từ dòng âm nhạc dân gian. Tuy nhiên, việc khai thác những chất liệu âm nhạc dân gian Việt Nam (phương Đông) và làm mới nó bằng tác phẩm khí nhạc theo bút pháp phương Tây là một thủ pháp sáng tác quan trọng của nhà soạn nhạc. Chất liệu âm nhạc dân gian sẽ là “cũ” với người này nhưng sẽ là “mới” với người khác. Cũng vì thế nên lịch sử phát triển của nghệ thuật âm nhạc trên thế giới luôn có sự tìm tòi và khai thác những chất liệu âm nhạc mới qua những chất liệu dân gian của các nước. Cuối thế kỷ XIX, nhạc sĩ người Pháp Clauss Debussy (1862 - 1918) đã được nghe những âm hưởng, tiết tấu, màu sắc dân gian mới lạ và sinh động của dàn nhạc Gamelan (Bali - Indonesia) lần đầu tiên trình diễn trong cuộc triển lãm ở Paris. Những âm thanh mới mẻ đã in đậm trong tâm trí của người nhạc sĩ và khơi dậy niềm đam mê sáng tạo để đưa chất liệu mới này vào tác phẩm.  Từ đó, nét nhạc phương Đông đã được thể hiện ở âm giai ngũ cung như giao hưởng “Những nôc tuyếc” (Norturns) và 03 phác thảo giao hưởng “Biển” của ông. Tương tự như C. Debussy, trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX còn có rất nhiều những nhạc sĩ khác ở châu Âu và châu Mỹ cũng sưu tầm khai thác những chất liệu dân gian từ phương Đông đưa vào tác phẩm âm nhạc của mình như: Các nhạc sĩ người Nga Nicolay Rimsky Korsakov (1844-1908); Alexander Borodin (1833-1887); nhạc sĩ người Pháp Olivier Mesiaen (1908-1992); nhạc sĩ người Đức Karlheinz Stockhausen (1928-2007); nhạc sĩ người Mỹ John Cage (1912-1992)... Họ đã khai thác những tư tưởng của văn hoá phương Đông, chất liệu âm nhạc phương Đông để tạo nên mối quan hệ kết hợp phương Đông và phương Tây trong tác phẩm khí nhạc. Ngược lại, người châu Á cũng rất quan tâm đến những dòng âm nhạc mới lạ của phương Tây. Mỗi một nơi, sự hoà trộn Đông - Tây lại có một dáng vẻ riêng. Tại Saung Angklung Udjo ở Bandung - Indonesia, một trung tâm văn hóa dân gian của tộc người Sundanes - Tây Jawa thì sự pha trộn Đông - Tây được thể hiện khi họ biểu diễn những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng của các nhạc sĩ lỗi lạc châu Âu như: Giao hưởng số 40 của W.A.Mozart bằng nhạc cụ Angklung và dàn nhạc gõ tre nứa Arumba[1].

Với Việt Nam, chúng ta sử dụng chất liệu nghệ thuật dân gian để xây dựng tác phẩm khí nhạc. Nước ta có kho tàng âm nhạc dân gian phong phú nên khai thác chất liệu âm nhạc dân gian luôn là những sáng tạo mới cho tác phẩm. Mỗi người sáng tác vận dụng và xử lý chất liệu âm nhạc dân gian một khác. Âm nhạc dân gian Việt Nam trong tác phẩm khí nhạc mới vừa thể hiện sự kết hợp ngôn ngữ âm nhạc phương Đông với phương Tây, vừa thể hiện bản sắc văn hoá riêng, sự sáng  tạo nghệ thuật riêng của các nhạc sĩ Việt Nam. Do đó, chất liệu âm nhạc dân gian Việt Nam chính là nguồn chất liệu bất tận để khai thác sáng tạo nghệ thuật của chủ thể sáng tạo khí nhạc mới Việt Nam.

 


[1] Arumba là tên gọi dàn nhạc gõ tre nứa của Saung Angklung Udjo ở Bandung - Indonesia. Dàn nhạc này gồm có các loại nhạc cụ bằng tre nứa như: Angklung, Gambang 1, Gambang 2, Mõ, Bass; ngoài ra còn có trống (kendang) và có thêm nhạc cụ dây của châu Âu là double bass.

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Các bài viết khác