Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết
thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good
Đến bài viết
thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết
Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết
Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết
Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết
Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi.
Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết
Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết
Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết
Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết
GIAO HƯỞNG SỐ 9 CỦA MAHLER
Michael Bosworth
Sau những sự kiện định mệnh của hai năm trước đó, đầu mùa hè năm 1909, Gustav Mahler bắt đầu chuyển đến làm công việc sáng tác tại ngôi nhà tại Toblach (ngày nay là Dobbiaco, nước Ý). Sự qua đời của đứa con gái bé bỏng Maria, lại việc chẩn đoán mắc bệnh tim, cùng với sự từ chức làm giám đốc của Nhà hát Opera Viên đã làm thay đổi hoàn toàn cuộc sống và công việc còn lại của ông.
Phản hồi âm nhạc đầu tiên sau những sóng gió đó là tác phẩm “Das Lied von der Erde”(Bài ca trái đất) dựa trên lời thơ cổ Trung Quốc – một bài ca trong chùm khúc ca giao hưởng được viết trong suốt một năm trước đó. Sau một năm rưỡi làm việc với Nhà hát Nhạc kịch Metropolitan New York, ông mới bắt đầu viết bản Giao hưởng số 9.
Giao hưởng số 9 này tiếp tục công phá ranh giới của cấu trúc cổ điển cả về điệu thức và nhịp điệu, âm nhạc mang tính thể hiện nhiểu nhưng vẫn gần gũi với cấu trúc truyền thống 4 chương (về vấn đề này, có một số người nhận thấy có ít sự tương đồng với ý đồ mà Tchaikovsky thể hiện trong giao hưởng Pathétique).
Giao hưởng số 9 của Mahler với những lá bài định mệnh, chỉ ra rằng: những thành công tuyệt đối và sự công nhận trên đời không phải dành cho Mahler, ông không thể giải thoát mình khỏi sự bủa vây của thế giới huyền bí và cũng không thể thoát khỏi tấn bi kịch. Âm nhạc của ông chứa đựng những hoài niệm, sự nhẫn chịu, và cả sự buông xuôi chấp nhận. Tuy nhiên, nó không mang đến sự chết chóc như nhiều người đã nhận định.
Sức khỏe của Mahler trở nên ổn định và ông mong đợi một mùa làm việc bận rộn đầu tiên với vai trò là Giám đốc âm nhạc và chỉ huy trưởng dàn nhạc New York Philharmonic (1909-1910). Bản phác thảo giao hưởng số 10 (bắt đầu viết năm 1910) đang còn dở dang cũng thể hiện niềm đam mê sáng tạo vô cùng lớn và nó luôn ghi dấu ấn của ông.
Bản giao hưởng số 9 phản ánh rõ nét cấu trúc với chương đầu và chương thứ tư đóng vai trò chính trong tác phẩm và hai chương giữa đóng vai trò là phần chuyển tiếp.
Chương I đậm chất trường ca hùng tráng (Andante comodo), Mahler điểm lại những niềm đam mê trong cuộc đời của một con người. Chỉ sau vài nhịp dạo đầu ngắn ngủi (lưu ý motip quan trọng gồm 4 nốt nhạc trên hợp âm Fa trưởng do đàn Harp chơi ở nhịp 3), Mahler đã đưa người nghe vào gam buồn chủ đạo của tác phẩm. Điều không bình thường đối với sáng tác của Mahler là ông đã kéo dài phần thể hiện chủ đề này ở đầu mỗi chương. Các ý tưởng được thể hiện trong sự phát triển mạnh mẽ.
Một trong những nét ấn tượng của những ý tưởng đó là việc sử dụng lại chủ đề nhạc Waltz của Johann Strauss với tựa đề “Hãy tận hưởng cuộc sống” mà ngày nay người ta đã lãng quên. Bản nhạc Waltz này được Strauss viết trong thời gian rất ngắn đề phục vụ phần hòa tấu khai trương tòa nhà Musikverein ở Vienna năm 1870. Chính trong tòa nhà này Mahler đã bắt đầu theo học trường âm nhạc Vienna một vài năm sau đó (năm 1875) khi đó ông tròn 15 tuổi. Niềm khao khát và nỗi thất vọng của thời thơ ấu cũng như giai đoạn bắt đầu trưởng thành cứ thế dâng trào đẩy lên cao trào, trong đó có cả một vài đoạn hòa tấu…
Sau phần cao trào cuối cùng là điệu nhạc đưa tang được thể hiện bằng nhịp trống, tiếng kèm trumpet và tiếng chuông ngân. Chủ đề mở đầu lần nữa được lặp lại ở dạng biến thể khác, sau đó âm nhạc vỡ tan thành ngàn mảnh, ý tưởng vụn vỡ được thể hiện qua các loại nhạc cụ khác nhau, đôi khi tưởng chừng quên đi giới hạn thời gian và nhịp điệu (một thủ thuật mà Mahler đã khám phá trong Das Lied).
Sau hồi trầm lắng, tiếng violon phối với oboe vang lại điệu buồn “Freut Euch”. Tiếng oboe nắn nót chơi lại hai nốt nhạc mở đầu của chủ đề chính, còn tiếng đàn harp cũng đã chơi đến nốt cuối cùng cao chót vót hòa lẫn trong tiếng piccolo và cello.
Chương II được đặt tên ‘in Tempo eines Gemächlichen Ländlers’ (Giai điệu Landler êm ái), mà sau đó Mahler đã ghi thêm là “có vẻ như vụng về và thô tục”. Và sự thực là như vậy. Mahler đã từng thích viết loại nhạc nhảy kiểu Ländler trong các bản giao hưởng của mình, nhưng ở đây chúng ta lại thấy sự thể hiện với giọng điệu mỉa mai, châm biếm – đôi khi lại có vẻ như chúng ta đang nghe thứ nhạc lễ hội thô tục. Khúc Keczô dài lê thê và đầy vụng về ầm rung trong suốt phần hòa tấu bộ ba và cuối cùng khép lại một cách hờ hững, ngập ngừng.
Chương III mang tên ‘Rondo. Burleske’ (Allegro assai). Sau này nó còn có tên là ‘Sehr trotzig’. Đoạn nhạc thể hiện rõ cá tính ương bướng, nóng giận vốn là nét tính cách riêng của tác giả. Những lời chú giải trong những phác thảo trước đây cho thấy Mahler đang phản pháo lại rất nhiều những nhà phê bình về cách chỉ huy nhạc và âm nhạc của ông mà ông phải đương đầu suốt mấy thập kỷ.
Cách phát triển chủ đề như chất fuga nhộn nhịp làm cho người ta phải băn khoăn phải chăng người nghệ sĩ làm việc bán thời gian ở New York đang phần nào phản ánh những ấn tượng của mình về đường phố náo nhiệt của Manhattan. Thậm chí có lúc Mahler còn trích dẫn theo kiểu bông đùa từ chương I trong Bản giao hưởng số 3 của mình.
Sức lan tỏa không ngừng chỉ bị phá vỡ ở phần cuối bằng khoảng lặng yên bình, được báo trước bằng điệu lướt của đàn harp và dẫn dắt bởi tiếng trumpette nhẹ nhàng. Ở đây chất liệu của chương cuối cùng đã được lột tả, trước khi trở lại với vũ nhạc ‘Burleske’. Hồi kết (được đánh dấu bằng Presto) đã mang đến không khí nồng nhiệt, rực lửa.
Chương IV Adagio sầu thảm. Chủ đề chính dường như bắt đầu ngay tức khắc (trong ô nhịp thứ 3), nhưng trong nhịp đầu tiên, mô típ chủ đạo cho toàn bộ chương lại được giới thiệu. Ý tưởng này thường được tìm thấy trong âm nhạc cổ điển như sự tô điểm hay nhạc dạo tùy hứng với 4 phím chuyển xuống trầm - lên bổng.
Khúc chuyển được tích hợp vào trong chủ đề chính tạo cho người nghe cảm giác hướng về phía trước – đây là một thủ thuật tự sự như xuất hiện trong các tác phẩm điện ảnh. Chất liệu của chủ đề biến hóa đa dạng trong suốt chiều dài của chương, đôi lúc các nhạc cụ hòa tấu lắng xuống tạo cảm giác giống như nhạc thính phòng. Đây cũng là một thủ thuật đặc trưng của giai đoạn sau, trong sự nghiệp âm nhạc của Mahler. Chủ đề chính lại được lặp lần cuối cùng đầy ấn tượng sau khi đã đạt đến tột đỉnh. Âm nhạc sau đó chìm lắng dần rồi tan biến.
Mahler đã chọn cái kết cực chậm và vô cùng tĩnh lặng cho bản giao hưởng này. Khi phần nhạc đệm tựa hồ như điệu hát ru cất lên, tiếng viola thể hiện lại ý tưởng của khúc chuyển và cuối cùng, lần đầu tiên người ta thấy bốn nốt cuối của khúc chuyển này được chơi theo điệu lên bổng xuống trầm, hoàn toàn trái ngược với ban đầu. Vòng tuần hoàn đã khép kín, sự tranh đấu đã hoàn tất, sự bình an được trả lại.
Định mệnh đã không cho Mahler được nghe phần thể hiện nhạc phẩm này mặc dù bản giao hưởng đã cơ bản hoàn thành vào cuối mùa hè năm 1909. Không bao lâu sau khi chỉnh sửa phần chính của nhạc phẩm tại thời điểm mùa đông năm 1910 -1911 ở New York, Mahler đã mắc bệnh hiểm nghèo và qua đời vào ngày 18 tháng 5 năm 1911.
Chương trình biểu diễn “Bản giao hưởng số 9” nổi tiếng thế giới dưới sự chỉ huy của người bạn thân - người đồng nghiệp Bruno Walter của ông đã diễn ra tại sảnh chính của Nhà hát Musikverein Viên (đây cũng chính là ngôi nhà mà 37 năm trước Mahler đã là sinh viên của Nhạc viện). Điểm đáng lưu ý: đây là tác phẩm đầu tiên trong số những tác phẩm giao hưởng của Mahler được tôn vinh ở Viên. Bản tổng phổ của tác phẩm đã được xuất bản vào tháng sau đó.
Nghe trích đoạn chương 1:
BÀI CA TRÁI ĐẤT
Gustav Mahler
Dịch lời Việt: Thái Bá Tân
1. Bài hát uống rượu của một anh nghèo (Theo Lý Bạch)
Rượu trong chén vàng đang mời gọi.
Để tôi hát anh nghe, đừng uống vội.
Tôi hát bài hát buồn trong tim anh.
Mỗi lần buồn,
Bài hát trốn trong khu vườn tâm hồn.
Niềm vui và bài hát lụi dần, và chết
Cuộc đời đen, cái chết cũng đen!
Chủ nhà đâu! Nhà anh đầy rượu ngon.
Ta ngổi đây,
Thổi cây sáo này.
Và rồi sáo thổi xong, cốc rượu cũng trống không: Sáo và rượu luôn song hành, thật tuyệt.
Cốc rượu ngon uống khi cần còn quí hơn nghìn vàng.
Còn giờ thì đời tối đen, cái chết cũng đen!
Bầu trời xanh vĩnh viễn một màu xanh; trái đất sẽ luôn tồn tại, và mùa xuân hoa vẫn nở.
Nhưng con người, anh sẽ sống bao lâu?
Thậm chí không đến 100 năm để vui cái vui phù phiếm của cuộc đời.
Nhìn kia, hãy nhìn kia! Dưới ánh trăng, trên bãi tha ma, những bóng hình vật vờ đáng sợ.
Một con vượn! Hãy nghe tiếng hót xé lòng của nó trong mùi hương dịu ngọt cuộc đời.
Nào nâng cốc! Giờ là lúc ta say!
Hãy uống hết, đến không còn một giọt.
Vì cuộc đời tối đen, cái chết cũng đen!
2. Chiều thu, cô đơn (theo Qian Qi)
Mùa thu, sương treo trên mặt hồ.
Cỏ cây giá băng phủ trắng.
Như có bàn tay họa sĩ
Rắc phấn ngọc lên từng cánh hoa.
Hương hoa tàn.
Cơn gió lạnh làm bông hoa cúi gập.
Lá sen héo, rụng xuống,
Trên nước bập bềnh trôi.
Trái tim tôi mệt mỏi.
Con cừu non bước đi tung tăng làm ta buồn ngủ.
Tôi đã về đến nhà, nơi tôi tin tưởng.
Hãy để tôi nghỉ ngơi, là cái tôi cần.
Cô đơn, tôi thường khóc.
Mùa thu trong tim tôi quá dài.
Hỡi mặt trời tình yêu, liệu ngươi còn chiếu sáng
Và sưởi khô những giọt nước mắt buồn?
3. Bài thơ về những chàng trai trẻ (Theo Lý Bạch)
Giữa hồ, chiếc lầu
Lợp ngói xanh và trắng.
Lốm đốm như lưng con báo.
Chiếc cầu ngọc bắc ngang.
Đám bạn ngồi trong lều,
Ăn mặc đẹp, uống say, làm thơ và nói chuyện.
Tayáo lụa hất phía sau,
Dải mũ lụa vắt ngang bên cổ.
Mặt hồ lặng yên phản chiếu chiếc lầu
Qua tấm gương hình ảnh diệu mầu.
Mọi thứ trên lầu ngói trắng xanh lộn ngược.
Chiếc cầu chênh vênh như vành trăng bơi dưới nước.
Đám bạn ăn mặc đẹp, uống say, làm thơ và nói chuyện...
4. Bài thơ về cái đẹp (Theo Lý Bạch)
Các cô gái trẻ hái hoa; hái hoa sen bên bờ sông.
Họ ngồi dưới bóng cây, nhặt từng cánh hoa trên đùi,
và cười nói đùa nhau.
Những tia nắng vàng đan quyện nhau quanh người họ,
soi bóng họ xuống mặt hồ long lanh.
Mặt trời soi sáng thân hình mảnh mai và đôi mặt dịu dàng của họ;
Gió nhẹ thổi, khẽ làm bay tay áo,
gió mang hương thơm kỳ diệu của họ đi khắp nơi.
Nhìn kìa, đẹp sao những chàng trai tuấn tú cưỡi những con ngựa béo đi dọc bờ sông!
Rực rỡ như tia nắng, những chàng trai bước đi giữa những khóm liễu xanh.
Ngựa của một chàng vui sướng lồng lên trên bãi cỏ đầy hoa,
luôn đổi chân, nó dẫm nát những cánh hoa đang rơi như bất ngờ gặp gió.
Chao, chiếc bờm của nó tung bay trong gió thật đẹp, hơi thở ấm từ mũi phì phì.
Những tia nắng vàng đan quyện vào nhau quanh người họ,
soi bóng họ xuống mặt hồ long lanh.
Và cô gái đẹp nhất trong số các cô gái đưa mắt liếc tình người cô yêu quí.
Vẻ ngoài nghiêm khắc chỉ là cái vỏ.
Ánh mắt long lanh của đôi mắt to, và màu sẫm của cái nhìn nồng
cháy đã bộc lộ niềm khát khao trong trái tim nàng.
5. Mùa xuân, người say rượu (theo Lý Bạch)
Một khi đời chỉ là giấc mơ, thì cớ gì phải buồn và lo?
Tôi sẽ uống cho đến khi không thể uống, uống suốt ngày!
Và khi không thê uống thêm vì bụng và đầu đầy rượu, tôi sẽ lảo đảo về nhà
để ngủ say khoan khoái.
Vừa tỉnh dậy, tôi nghe gì đấy nhỉ?
Ồ, con chim hót trên cây.
Tôi hỏi chim: Phải chăng đã mùa xuân? Tôi thấy như mình đang mơ.
Con chim chiếp chiếp trả lời: Vâng, đã mùa xuân. Mùa xuân mới đến đêm
qua.
Vừa ngắm nhìn, tôi vừa nghe nó.
Con chim hót, và cười!
Tôi rót rượu đầy bát rồi uống cạn,
rồi tôi hát cho đến khi trăng chiếu sáng trên trời.
Khi không hát thêm được nữa, tôi lại ngủ.
Mùa xuân thì can gì đến tôi?
Cứ để tôi say!
6. Vĩnh biệt (Theo Meng Haraoran và Vương Duy)
Mặt trời lặn sau núi.
Thung lũng đêm chìm trong bóng tối mát mẻ.
Nhìn kia, như chiếc liềm bạc, trăng nhô lên trên mặt hồ xanh của bầu trời.
Tôi cảm thầy làn gió nhẹ thở dài sau rừng vân sam sẫm tối.
Con suối róc rách qua bóng đêm.
Giữa hoàng hôn hoa trở nên trắng nhạt.
Cả trái đất thở nhẹ, thiu thiu ngủ yên lành, mọi mong muốn giờ chỉ là mơ ước.
Người mệt mỏi lê bước về nhà, hy vọng được sống lại tuổi xuân và niềm vui trong giấc ngủ.
Chim đậu xuống cây, thôi không còn hót.
Cả thế giới rơi vào giấc ngủ.
Có tiếng thở dài mát mẻ trong những cây thông của tôi.
Tôi đứng chờ bạn mình; chờ để nói lời vĩnh biệt.
Tôi muốn chia sẻ với anh, bạn của tôi, về vẻ đẹp đêm nay.
Anh đang ở đâu? Anh bắt tôi chờ đã lâu.
Quay đi quẩn lại trên đường, chiếc sáo cầm tay, cỏ mềm mọc dày.
Ôi, thật đẹp! Thế giới vĩnh cửu, ngấy ngây vì tình yêu và sự sống.
Bạn tôi xuống ngựa, đang đi lại gần để uống cốc rượu vĩnh biệt.
Được hỏi sẽ đi đâu và vì sao phải đi, chàng đáp, giọng kín đáo:
“Bạn tôi ơi, Thần May Mắn không mỉm cười với tôi ở đời này. Tôi còn biết đi đâu?
Tôi sẽ đi lang thang trên núi.
Tôi sẽ tìm kiếm sự bình yên cho trái tim mình.
Rồi tôi sẽ quay về với ngôi nhà của tôi, quê hương của tôi.
Và sẽ không bao giờ đi xa nữa.
Trái tim tôi sẽ được nghỉ ngơi, chờ phút giây cuối cùng của nó.”
Những bông hoa dễ thương nở rộ khắp nơi trên mặt đất. Cây cối đâm chồi nẩy lọc mỗi lần xuân về.
Chân trời sẽ ngả màu xanh lơ cùng ánh sáng, khắp nơi và vĩnh cửu.
Vĩnh cửu... Vĩnh cửu...
Xem tin chương trình biểu diễn giao hưởng số 9 nhân tưởng niệm 100 năm ngày mất của Mahler