Trang chủ | Thứ ba, 11/12/2018 | Tìm kiếm
Phiên bản cũ
head top head bottom

Ý kiến mới nhất

Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết

thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good  Đến bài viết

thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết

Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết

Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết

Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết

Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi. Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết

Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết

Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết

Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết

Tổng số lượt truy cập: 14908244
Trang chủ » Chuyện nhạc

NGƯỜI NGOẠI QUỐC CÓ THƯỞNG THỨC NHẠC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM HAY CHĂNG?

Thứ sáu, 21/10/2011

GSTS Trần Văn Khê

"Sau một buổi biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam tại nước ngoài, khi nghe Ban tổ chức khen rằng nhạc Việt Nam rất hay, anh đừng vội tin và mừng. Thường thì là một lời khen ngoại giao, chớ thật sự chưa chắc người nước ngoài đã nghe lọt vào tai và thích nhạc Việt Nam đâu" – Một người bạn Việt rất dè dặt nên đã nói với tôi như thế. Tôi cũng biết điều ấy và cũng đủ sáng suốt để nhận thấy cái khác biệt giữa lời khen đầu môi chót lưỡi và lời khen chân thành.

Xin kể lại cho các bạn nghe vài trường hợp điển hình.

Năm 1968, tôi được mời dự nhạc hội Shiraz Ba Tư. Lúc đó hàng năm tại Shiraz, một thành phố ở vào phía Nam Ba Tư, nơi có nhiều Thánh đường Hồi giáo nổi tiếng không những về kiến trúc, mà còn có lăng cho hai vị thi hào lớn của Ba Tư là Hafez và Saadi, nơi có tổ chức một Nhạc hội Âm nhạc Châu Á. Lăng mộ của Hafez được dựng lên trong một khu vườn thật lớn có trồng rất nhiều hoa lài, đêm đêm tỏa ra một mùi hương êm dịu. Những lúc hòa nhạc, ban tổ chức cho tắt hết đèn điện và đốt lên những ngọn đèn dầu lung linh theo gió. Từ ngòai cửa đi vào nơi hòa nhạc, thính giả được thưởng thức vẻ đẹp đặc biệt của một đêm hè trên trăng, dưới gió mà ánh trăng thiên nhiên không bợn ánh đèn điện. Đến nơi hòa nhạc thì thính giả chỉ ngồi trên ghế gỗ có gối dựa hoặc có thể ngồi trên bãi cỏ. Tiếng nhạc Ba Tư hoặc một ống Ney, hay một đàn Setar bay nhè nhẹ trong không trung đã dẫn dắt thính giả vào trong một không gian huyền bí của rừng sâu hay sa mạc.

lang mo hafez

Lăng mộ Hafez lung linh trong ánh đèn dầu & tỏa hương hoa nhài mỗi buổi diễn

Tuy có tên là Nhạc hội Quốc tế nhưng hai phần ba chương trình dành cho nhạc Châu Á, đặc biệt là nhạc Ba Tư. Năm 1968, lần đầu tiên Ban tổ chức mời ba Nhạc sĩ Châu Á, bà Kishibé đờn Koto Nhựt Bổn, bà Sharan Rani (Ấn Độ) đờn Sarod và tôi đờn Tranh Việt Nam. Ban tổ chức chưa biết người Ba Tư có chịu nghe ba loại nhạc đó hay không, nên sắp một chương trình nhạc Châu Á mà phần đầu mỗi người nhạc sĩ Nhựt, Ấn Độ và Việt Nam đờn 15 phút. Rồi sau 15 phút nghỉ giải lao, có một chương trình nhạc Ba Tư trong một tiếng đồng hồ. Ai không thích nhạc Nhựt Bổn, Ấn Độ hay Việt Nam cũng có thể đến nghe vì hiếu kỳ, rồi sau đó sẽ được thưởng thức nhạc Ba Tư. Thính giả hôm đó vỗ tay tán thưởng rất nồng nhiệt, nhưng Ban tổ chức đợi bài phê bình của các báo và thăm dò dư luận. Nếu người ta chỉ hiếu kỳ mà không thưởng thức thì sau lần đó sẽ không bao giờ mời nhạc Việt Nam trở lại dự nhạc hội mấy năm sau.

Năm 1970, tôi lại được mời tham dự nhạc hội Shiraz và trong chương trình Âm nhạc Châu Á, phần đầu bà Sharan Rani đờn nửa giờ, tôi đờn nửa giờ (đàn Tranh). Số phút dành cho nhạc Ấn Độ tăng gấp đôi. Ban tổ chức thấy thính giả chịu nghe, báo chí phê bình tốt nên đã mời như vậy.

dan sarod an do

Đờn Sarod Ấn Độ

ba sharan rani

Bà Sharan Rani (thời trẻ) đờn Sarod

Hai năm sau 1972, tôi được mời tham dự Nhạc hội Shiraz với chương trình một giờ đồng hồ phần đầu và phần sau một giờ đồng hồ nhạc Ba Tư. Tuy thấy cây đờn Tranh được thính giả nghe mà cũng chưa dám dành cả một đêm cho nhạc Việt Nam. Năm đó có con trai tôi là Trần Quang Hải cùng hòa với tôi (đờn Tranh, đờn Nguyệt) và đờn Tranh tùy hứng, con tôi nhịp sinh tiền. Tôi cũng chẳng mong gì hơn là trong một buổi hòa nhạc có người chịu nghe nhạc Việt Nam trong một tiếng đồng hồ.

Năm 1975, Ban tổ chức lại viết thư mời tôi tham dự Nhạc hội và hỏi tôi có dám đảm nhận cả một đêm chương trình không? Tôi đắn đo trong mươi ngày trước khi nhận lời. Và trước khi đi, tôi tập cho con gái út tôi là Trần Thị Thủy Ngọc rao đủ các hơi Bắc, Quảng, Nhạc, Xuân, Ai, Đảo và năm đó một chương trình hoàn toàn Việt Nam hai phần, mỗi phần 45 phút, lại còn được truyền thanh, truyền hình trực tiếp.

don kim

Thủy Ngọc đờn Tranh & Trần Văn Khê đờn kìm

Nếu thính giả Ba Tư và quốc tế dự nhạc hội không thích nghe nhạc Việt Nam thì hôm ấy nơi hòa nhạc sẽ vắng hoe, thính giả các Đài phát thanh và truyền hình sẽ tắt đài. Trách nhiệm khá nặng đối với Ban tổ chức. Nhưng tối hôm ấy phòng hòa nhạc đầy khách và sau này Đài truyền hình và truyền thanh báo cáo là số thính giả mở Đài để xem hoặc nghe chương trình Việt Nam rất đông. Báo chí phê bình rất tốt. Ban tổ chức sáng hôm sau đến tặng hoa đặc biệt cho tôi và con gái tôi.

Tôi rất mừng vì thấy thính giả Ba Tư và quốc tế đã thích nghe nhạc Việt Nam, bằng lòng nghe luôn trong gần 2 tiếng đồng hồ, tức là nhạc truyền thống Việt Nam có một chân giá trị nghệ thuật. Sau khi nghe vì hiếu kỳ, người ta có thể muốn nghe lại, nghe lâu hơn vì thích thú.

Đó chỉ là trường hợp đặc biệt vì dân Ba Tư thuộc về Châu Á. Trong nhạc Ba Tư lại có điệu thức có Dastgâh Segâh để diễn tả sự nhớ nhung, lòng buồn thảm do một quãng 3 trung bình giữa quãng 3 thứ và trưởng như trong Hơi Sa mạc của Việt Nam. Trong Nhạc hội đa số thính giả là người "mộ điệu", "sành nghề" dễ cảm thông với các loại nhạc khác hơn nhạc của nước mình.

Sau đây là một trường hợp khác.

Năm 1979, tôi được Giáo sư Kroo, dạy nhạc học tại Hàn Lâm Viện Liszt tại Budapest (Hung-ga-ri). Sau 4 hôm tôi thuyết trình về âm nhạc truyền thống Việt Nam cho lớp sáng tác lý luận, GS Kroo nói : "Tôi rất tiếc là những điều GS đã thuyết trình về nhạc Việt Nam, những bản nhạc, bài ca mà GS đã biểu diễn, chỉ có độ gần 60 GS và sinh viên lớp cao học được nghe. Tôi đề nghị GS nói trên Đài phát thanh để có đông đảo thính giả được nghe".

Tôi đồng ý và nói cho Đài phát thanh Hung-ga-ri ghi một chương trình 45 phút về âm nhạc Việt Nam, tôi chỉ lướt qua các loại và minh họa bằng băng ghi âm hay tôi đánh đờn Tranh, đờn Cò (Nhị). Tôi nói rằng trong 45 phút không thể giới thiệu đầy đủ Âm nhạc Dân gian và Âm nhạc Bác học hay Âm nhạc có tính chất nghệ thuật. Xin hẹn với các thính giả lần khác.

Sau khi nghe lại chương trình đã ghi âm, bộ biên tập của Đài đề nghị tôi nói thêm hai buổi, một buổi về Âm nhạc Dân gian, một buổi về Âm nhạc Cung đình và âm nhạc có tính chất nghệ thuật như nhạc loại Thính phòng, Ca Trù, Ca Huế, Ca Tài tử.

Trong đoạn kết luận, tôi nói rằng âm nhạc mà các thính giả vừa nghe là âm nhạc của dân tộc người Kinh, người Việt. Trong Nước Việt Nam, ngoài dân tộc Kinh còn có dân tộc thiểu số chia 54 sắc dân với những nhạc cụ, bài hát, bản đàn khác nhạc người Kinh. Ngoài nhạc truyền thống cổ còn có một loại nhạc mới, từ hơn 40 năm (đến năm 1979) đã nói lên được nguyện vọng, hoài bão của dân tộc Việt Nam, đã mang một sắc thái mới và có chịu ảnh hưởng ít nhiều âm nhạc phương Tây. Bộ biên tập của Đài phát thanh lại mời tôi nói thêm hai buổi nữa về âm nhạc của dân tộc thiểu số trên đất Việt Nam và âm nhạc mới hay "tân nhạc", trong đó có ca khúc trữ tình, ca khúc cách mạng, ca khúc kháng chiến, ca nhạc khiêu vũ và những sáng tác mới theo phong cách cổ điển phương Tây – tôi có giới thiệu bài "Tứ tấu đàn dây" của Đỗ Nhuận.

Tôi đã nói rõ là về tư liệu âm nhạc dân tộc thiểu số chúng tôi chỉ có nghe nhạc do bà Bá tước de Chambure, bà de Hautecloque, ông Georges Condominas, ông Jacques Dournes ghi âm từ vài mươi năm nay và tàng trữ lại Bảo tàng viện con người và chỉ cho nghe những trích đoạn tôi đã đem theo để giảng tại lớp lý luận như những dàn cồng của dân tộc Mnong gar, dân tộc Gia-rai, dân tộc Ê-đê, tiếng Khèn bè Mbuat của dân tộc Mnong gar, vài bài của dân tộc Chàm, dân tộc Kh'mer, nhưng còn thiếu rất nhiều loại nhạc khác của dân tộc Thái, Tày, Nùng, H'mong, Lolo ...

Tuy không đầy đủ nhưng các thính giả cũng được nghe qua đủ các loại nhạc, nhạc Dân gian, nhạc Thính phòng, nhạc Sân khấu, nhạc Cung đình, nhạc Dân tộc ít người, nhạc mới và ca khúc cách mạng như bài "Cùng nhau đi hồng binh" mà anh Hà Huy Giáp đã đem sang Pháp cho Việt kiều nghe...

Ban biên tập truyền hình rất hài lòng và cho tôi biết sẽ phát thanh vào tháng ba năm 1979.

Đến tháng ba tôi nhận được một bức thư của Đài phát thanh Hung-ga-ri mà vừa đọc qua đoạn đầu, tôi ngạc nhiên: "Chúng tôi xin thông báo cho ông hay rằng Đài phát thanh Hung-ga-ri không phát năm chương trình về âm nhạc Việt Nam vào tháng ba như đã dự định...".

Tôi chẳng biết sau khi "duyệt" lại chương trình có chi không ổn hay chăng mà Đài lại không phát ra.

Đọc tiếp đoạn sau: "Tháng ba chẳng có sự kiện chi quan trọng, phát thanh một loạt 5 chương trình về nhạc Việt Nam rất phí. Nếu ông đồng ý, chúng tôi đề nghị đến tháng chín, sau ngày lễ Quốc khánh Việt Nam, chúng tôi sẽ phát liên tục chương trình Âm nhạc Việt Nam trong 5 hôm liền".

Lẽ tất nhiên là tôi đồng ý và cám ơn Ban biên tập Đài phát thanh đã có nhã ý ấy.

Các buổi phát thanh bằng tiếng Hung-ga-ri, dịch những lời tôi nói bằng tiếng Pháp đã được Đại sứ quán Việt Nam ghi lại và anh tùy viên văn hóa đã viết thư cho tôi biết rằng "bản dịch rất tốt".

Đầu tháng 10, tôi được thư của GS Kroo mà đọc xong câu đầu tôi thấy giật mình: "Đài phát thanh Hung-ga-ri đã phát tất cả 5 chương trình về âm nhạc Việt Nam. Chúng tôi đã nhận được nhiều bức thư phản đối của thính giả ..."

Chẳng biết trong lời thuyết trình tôi có nói chi xúc phạm đến dân tộc Hung-ga-ri hay chăng mà thính giả phản đối. Tôi đọc tiếp bức thư: "Đa số thính giả sau khi nghe 5 chương trình đã vào thư viện tìm xem có sách báo viết về Âm nhạc Việt Nam bằng tiếng Hung-ga-ri, mà không có một bài bản nào về vấn đề đó. Thính giả cho là một thiếu sót cần được bổ khuyết. Tôi thấy rất đúng mà dịch ra những lời giới thiệu của GS trên Đài cũng được. Nhưng tôi nghĩ nếu GS cho một bài viết về Âm nhạc Việt Nam độ hai mươi trang, chúng tôi sẽ cho dịch ra tiếng Hung-ga-ri và để vào thư viện theo lời yêu cầu của thính giả".

Tôi đã viết một bài theo lời đề nghị của GS Kroo mà lòng rất vui. Chịu nghe liên tục trong 5 hôm, 5 bài nói chuyện về Âm nhạc Việt Nam, đã là một bằng chứng rằng thính giả đã chịu nghe, thích nghe nhạc Việt Nam. Nghe rồi lại còn muốn tìm hiểu  thêm, chứng tỏ rằng thính giả đã thấy trong nền âm nhạc đó có một giá trị nghệ thuật hay khoa học nào đó. Trong bài gửi cho GS Kroo, tôi đã có mấy đoạn nói qua vị trí của nhạc Việt Nam trong Châu Á, kể ra một số nhạc cụ, thuyết trình sơ lược về thang âm, điệu thức, tiết tấu trong âm nhạc Việt Nam, các loại nhạc. GS Kroo rất vui và nói nếu tìm được ngân sách và người dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Hung-ga-ri, ông sẽ cho dịch quyển về âm nhạc Việt Nam tôi đã viết cho nhà xuất bản bên Pháp Buchet Chastel. Nhưng vài năm sau quyển ấy đã được dịch ra tiếng Đức, mà người Hung-ga-ri đa số biết tiếng Đức rành hơn tiếng Pháp. Và tiện đây cũng nói cho các bạn hay rằng quyển sách đó bên Pháp đã bán hết và nhà xuất bản Buchet Chastel đã chuyển sang cho một nhà xuất bản khác. Nhà xuất bản này vừa viết thư cho tôi xin phép tái bản trong năm 1996.

Như vậy các bạn thấy rằng người Hung-ga-ri, người Đức, người Pháp vẫn muốn tìm hiểu âm nhạc Việt Nam, các Đài phát thanh, các nhà xuất bản mới cho tái bản sách về nhạc Việt Nam.

Nếu nhạc Việt Nam không có một chân giá trị về nghệ thuật, người nước ngoài chỉ muốn nghe qua một lần cho biết vì tính hiếu kỳ. Khi người ta đã nghe rồi muốn nghe lại, chúng ta có thể tin rằng âm nhạc Việt Nam có một sức hấp dẫn.

Lẽ tất nhiên, nếu không giải thích, không giới thiệu rành mạch, thì có những điểm không giống như âm nhạc phương Tây, làm cho người nước ngoài không thể bước vào vườn hoa âm nhạc của nước Việt để thưởng thức hương sắc của nhiều loài hoa thơm cỏ lạ. Lời giải thích như chiếc chìa khóa để mở cửa vườn hoa đó.

Chúng tôi luôn luôn nhớ lời của nhà Đại văn hào Pháp Romain Rolland viết trong thiên tiểu thuyết Jean Christophe : "Âm nhạc, dầu ai nói gì đi nữa, cũng không phải là tiếng nói đại đồng. Phải cần có cây cung của tiếng nói để bắn mũi tên âm thanh vào lòng của mọi người" (La musique, quoiqu'on dise, n'est pas une langue universelle. Il faut l'arc des mots pour faire pénétrer la flèche des sons dans le coeur de tous").

Paris 1979

(Nguồn: blog Tran Van Khe)

Ý kiến bạn đọc

Tên (Bắt Buộc)
Email (không hiển thị trong bài viết) (Bắt Buộc)
Ý kiến (Bắt Buộc)

Các bài viết liên quan

Tin liên quan khác

Các bài viết khác