Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết
thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good
Đến bài viết
thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết
Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết
Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết
Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết
Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi.
Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết
Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết
Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết
Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết
BÀN VỀ CÔNG TÁC PHÊ BÌNH ÂM NHẠC
Tố Mai
(Tham luận của tọa đàm Đời sống âm nhạc và hoạt động lí luận phê bình hiện nay tại Hội Âm nhạc Hà Nội 6-10-2011)
Bàn về công tác phê bình âm nhạc ở nước ta từ nhiều năm nay đã thành đề tài của khá nhiều hội nghị, bài viết, là nỗi trăn trở không chỉ của riêng những người làm công tác âm nhạc mà còn cả của khá nhiều học giả ngoại đạo yêu âm nhạc.

Tất cả những người làm công tác âm nhạc chúng ta đều công nhận với nhau rằng, hiện nay trong các lĩnh vực sáng tác, biểu diễn, đào tạo, nghiên cứu lý luận và phê bình âm nhạc thì phê bình âm nhạc là mảng yếu nhất.
Đã có rất nhiều ý kiến như:
“Nước ta chưa có phê bình âm nhạc”
“Chúng ta không có đội ngũ phê bình âm nhạc”
“Công tác phê bình vẫn ở dạng tự phát”
“Phê bình âm nhạc chỉ như gió vào nhà trống”
v.v.
Một vài trong số ý kiến trên đã nêu từ nhiều năm nay như “Nước ta chưa có phê bình âm nhạc” là của nhạc sĩ Tô Vũ đăng trên báo Thể thao văn hóa năm 2003, song thử nhìn lại từ đó đến nay là gần chục năm thì điều đó đã thay đổi được bao nhiêu. Mới chỉ cách đây một năm thôi (năm 2010), trên Sài gòn giải phóng đã đăng bài của nhà phê bình âm nhạc Nguyễn Thị Minh Châu có viết: “chúng ta chưa có đội ngũ phê bình âm nhạc”. Và gần đây nhất (tháng 5 – 2011) trên Xa lộ tin tức lại đăng lại bài này của chị.
Tôi rất tâm đắc với một bài viết có tiêu đề Kẻ độc hành của nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan khi ông giới thiệu tuyển tập Nhà phê bình âm nhạc - Anh là ai của Nguyễn Thị Minh Châu. Tôi xin trích một đoạn dưới đây:
“Hơn hai mươi năm cặm cụi tiếp cận, cặm cụi đọc, cặm cụi viết, bỗng một lần chị cảm thấy đơn độc, đơn độc thực sự bởi không có người đồng hành. Đứng giữa “khoảng trống” mênh mông của diễn đàn phê bình âm nhạc chuyên nghiệp, “kẻ độc hành” thốt lên: Nhà phê bình âm nhạc, anh là ai?, anh ở đâu, sao anh không lên tiếng để tạo ra “xung”, ra “huých”, ra tranh luận trong cái thời buổi hội nhập đầy biến động này? Tiếng gọi đó, câu hỏi đó như rơi vào hư không, chẳng ai bận tâm trả lời.
…“Kẻ độc hành” vẫn mơ tới một nền lí luận phê bình âm nhạc đích thực, mặc dù biết: “Chẳng oan mấy nếu gọi tên thực trạng phê bình nhạc mới là Nguyễn Y Vân - tức “vẫn y nguyên”!”.
Và tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến của tác giả: “Không có kẻ đồng hành cũng đồng nghĩa với không có đội ngũ. Không có đội ngũ thì làm sao có thể khích lệ sáng tác hay uốn nắn những thị hiếu lệch lạc, thấp kém”.
Quả thật, tiêu đề Kẻ độc hành mà nhà nghiên cứu âm nhạc Đặng Hoành Loan đặt cho bài viết của mình đã nói lên thực trạng khá chua xót, một khoảng trống lớn trong công tác phê bình âm nhạc chuyên nghiệp của chúng ta. Hội Nhạc sĩ Việt Nam, các Hội Âm nhạc Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh… đã có nhiều cố gắng để khỏa lấp khoảng trống này như thành lập các câu lạc bộ phê bình âm nhạc, tổ chức các Hội thảo, tọa đàm phê bình âm nhạc, tìm ra những giải pháp… Song xem ra, cũng mới ở tầm vi mô. Trăn trở có, mong muốn có, biện pháp cũng đã có nhưng kết quả chỉ như “gió vào nhà trống”, vẫn thiếu tính chuyên nghiệp và nói như Nguyễn Thị Minh Châu là vẫn y nguyên có lẽ cũng không quá.
Tuy nhiên, sẽ dễ lầm tưởng rằng diễn đàn âm nhạc ít có các bài viết phê bình. Giới báo chí lại từng nói: Giờ đây toàn dân đều viết phê bình âm nhạc. Đúng là có nghịch lý như vậy. Nhiều bài viết bình luận của giới chuyên nhạc, của giới báo chí ngoại đạo, của những người thích bình luận… song chủ yếu vẫn là tự phát, không theo một chiến lược rõ ràng và không phải là của đội ngũ phê bình chuyên nghiệp. Ta có thể kể không hết tên các nhạc sĩ sáng tác chuyên nghiệp, các ca sĩ biểu diễn chuyên nghiệp, còn các nhà phê bình chuyên nghiệp như Nguyễn Thị Minh Châu, Hồ Quang Bình thì có lẽ cũng chỉ đếm được trên đầu ngón tay.
Ai cũng hiểu phê bình âm nhạc là một việc không dễ, có người còn cho là “khó nhằn”, người làm phê bình phải có trình độ âm nhạc chuyên sâu vững vàng, có nền tảng văn hóa, có niềm đam mê, chịu hy sinh lăn lộn với đời sống âm nhạc thường nhật và phải có khả năng về ngôn ngữ học nữa. Cao hơn nữa, viết phê bình âm nhạc thu hút được công chúng là cả một nghệ thuật. Phê bình âm nhạc ở Việt Nam lại càng khó, không chỉ có “bình” mà còn phải có “phê”. Người Việt Nam vốn không thích bị phê bình, sống với nhau chủ yếu dựa trên cái tình, phê bình thì dễ bị động chạm, người ta chọn giải pháp an toàn là hơn. Lực lượng được đào tạo chuyên sâu về lý luận âm nhạc của ta không ít, song nghiên cứu hay giảng dạy thì không đụng chạm đến ai. Vả lại, có ai bắt các nhà nghiên cứu lý luận âm nhạc, các nhạc sĩ phải viết bài phê bình âm nhạc đâu, ai thích thì làm thôi. Đó là rất nhiều nguyên nhân khiến cho mảng phê bình âm nhạc ít có sự tham gia của các nhà âm nhạc chuyên nghiệp.
Một nguyên nhân quan trọng nhất của sự yếu kém trong phê bình âm nhạc hiện nay là đào tạo. Muốn có đội ngũ phê bình âm nhạc chuyên nghiệp và để công tác phê bình âm nhạc không mang tính chất tự phát thì không giải pháp nào hữu hiệu bằng phải có chuyên ngành đào tạo ra những người làm công tác phê bình. Chuyên ngành này có thể được đào tạo bên cạnh chuyên ngành nghiên cứu lý luận; có mã ngành tuyển sinh; có mục tiêu đào tạo; có nội dung chương trình các môn học và được cấp bằng đào tạo ghi rõ chuyên ngành Phê bình âm nhạc như chuyên ngành Lý luận âm nhạc. Như vậy, những người theo học ngành này chuyên tâm vào duy nhất một mục đích là trở thành nhà phê bình, ra trường họ ăn lương để làm công tác phê bình. Trong nhà trường họ được đào tạo chuyên sâu vào phê bình âm nhạc thì chắc chắn sẽ không bị mắc phải những điểm yếu của các mhà lý luận nghiên cứu khi viết các bài phê bình như thiếu tinh tế trong nghệ thuật viết, thiếu nhạy cảm trong nắm bắt thời cuộc, quá thiên về học thuật tỉ mỉ… Tuy nhiên, để làm được điều này cần đến chiến lược ở tầm vĩ mô. Thiết nghĩ, Hội Nhạc sĩ, Hội âm nhạc các tỉnh thành phố cần có những kiến nghị mang tính thuyết phục với các Bộ chủ quản để nhanh chóng xúc tiến vấn đề này.
Việc lập ra các Câu lạc bộ phê bình âm nhạc của các Hội là một việc làm đáng khích lệ, đã thu hút được nhiều sự quan tâm hơn, đã hâm nóng lên những vấn đề bất cập cần được giải quyết. Song, trong thời kỳ kinh tế thị trường và nền văn hóa hội nhập như hiện nay thì ảnh hưởng và sức lan tỏa của các Hội vẫn còn mờ nhạt. Dường như hàng ngày, thị trường âm nhạc vẫn hết sức ồn ào với đa dạng các loại nhạc giống như chợ có đủ các loại thực phẩm: tốt có, xấu có, độc hại có. Và ngườì tiêu dùng thì không phải ai cũng phân biệt được tốt, xấu. Ý tưởng xây dựng một diễn đàn phê bình âm nhạc trên mạng là một ý tưởng tuyệt vời trong thời đại internet bởi văn hóa đọc trên giấy giờ đã bị giảm rất nhiều so với trước đây, người ta đọc chủ yếu trên mạng. Tôi nghĩ, Hội cần tập trung cho vấn đề này, làm sao để có một diễn đàn như một trang báo mạng thực sự chỉ để dành riêng cho phê bình âm nhạc.
Truyền hình là nơi có thể phát huy tốt công tác phê bình âm nhạc, song hiện nay TV ít quan tâm đến vấn đề này, họ dành cho quảng cáo để có lợi nhuận và chiếu phim nhiều hơn. Trên truyền hình có phát những chương trình nhạc thính phòng giao hưởng nhưng thiếu tính hấp dẫn bởi gần như rất ít khi có người diễn giải, phân tích. Điều đó có khác gì mở đĩa hộ cho người xem và nếu vậy khán giả tự mở những đĩa mà họ yêu thích cần gì đến đài truyền hình. Tôi thấy người ta sẵn sàng chuyển kênh khi bật TV lên thấy chương trình hòa nhạc thính phòng.
Một điều nữa là nên thay đổi quan niệm âm nhạc tự thân nó nói lên tất cả, chỉ cần nghe và cảm nó là đủ, còn mọi ngôn từ đều trở nên vô nghĩa. Đây có lẽ là một sự cao ngạo của dân âm nhạc chuyên nghiệp, nếu vậy thì bao giờ nhạc thính phòng, nhạc giao hưởng và opera mới đến được với quần chúng? Như vậy chính chúng ta tự tạo ra một tháp ngà, một rào chắn ngăn cách với quần chúng. Ở đây cần đến những nhà lý luận phê bình âm nhạc, những bài viết không cần quá sâu về chuyên môn, thật giản dị, dễ hiểu để làm cầu nối giúp quần chúng đến với nhạc không lời. Khi nghe được nhạc không lời, dần dần, quần chúng tự rời xa thứ âm nhạc rẻ tiền, rỗng tuyếch mà không cần phải kêu gọi tuyên truyền hay tẩy não. Tôi có thể khẳng định, ngay cả với những người học âm nhạc chuyên nghiệp, không phải ai cũng nghe mà hiểu và cảm nhận được tác phẩm nhạc cổ điển nếu chưa biết về tác phẩm đó. Tôi có một cô con gái tuổi teen. Tôi và cháu thuộc hai thế hệ. Tôi nghe nhạc còn cháu xem nhạc. Chương trình yêu thích của cháu là những tiết mục của các diễn viên Hàn quốc và các diễn viên nước ngoài có thân hình đẹp, họ không chỉ là ca sĩ mà còn là những vũ công nhảy cực kỳ diệu nghệ, còn bài hát của họ thì giai điệu không ra giai điệu, tiết tấu không ra tiết tấu, rối rít, tít mù. Nhưng cháu rất thích và thu cả vào điện thoại di động, đi đâu cũng cầm theo để nghe. Tôi là giảng viên dạy môn Lịch sử âm nhạc, một hôm tôi mở đĩa “Những bức tranh trong phòng triển lãm” của nhạc sĩ người Nga - Modest Petrovich Mussorgsky. Khi đến tiểu phẩm “Quỷ sứ” tôi giảng giải cho con gái, cháu hào hứng lắng nghe những âm điệu của đàn piano và giành lấy cuốn Lịch sử âm nhạc để xem. Sau này, thỉnh thoảng cháu còn đề nghị tôi cho nghe“Những bức tranh trong phòng triển lãm”.
Hôm nay, tôi rất vui mừng được đến dự tọa đàm của Hội Âm nhạc Hà Nội, là một người được đào tạo chính quy bài bản về Lý luận âm nhạc tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, tôi không khỏi cảm thấy thật áy náy bởi chính bản thân mình hầu như chưa đóng góp được gì cho công tác phê bình âm nhạc mà đáng lẽ ra tôi đã phải làm từ lâu. Việc làm của Hội hôm nay khiến tôi suy nghĩ và tôi sẽ thay đổi để góp phần của mình vào sự nghiệp này.
Lê Xuân Hoan
Tôi rất tâm đắc với câu nói “thật như đùa” của nhà thơ Lê Đạt: “Hiện nay chưa có phê bình thơ, phê bình thơ chỉ là quảng cáo thơ”. Đó là lời nhận xét về tình hình phê bình Thơ, nhưng có lẽ cũng đúng đối với công tác phê bình âm nhạc hiện nay. Hoặc nói klhác đi, tình hình công tác phê bình âm nhạc của ta hiện nay cũng chưa phải đã sáng sủa hơn so với những thập kỷ qua, có chăng thì cũng mới dừng lại ở chỗ "khen nhiều hơn chê". Vẫn biết rằng, người Việt Nam vốn thích KHEN nhiều hơn CHÊ, nhưng khen, chê thông thường không tách rời nhau mà nó luôn luôn tồn tại, tác động qua lại lẫn nhau như "như hai mặt của một sự đối lập". Trong quá trình nhận xét, đánh giá các hoạt động văn học, nghệ thuật nói chung, âm nhạc nói riêng, nếu khen và chê đúng với bản chất vốn có của nó thì sẽ đem lại tác dụng to lớn trong việc góp phần thúc đầy con người sáng tạo. Ngược lại, khen chê không đúng (có thể do trình độ chuyên môn, động cơ và đạo đức... của nhà phê bình) thì thật là nguy hiểm. Nguy hiểm là ở chỗ, tăng thêm niềm "kiêu hãnh" cho những người vốn đã cao ngạo lại càng cao ngạo hơn, và cũng có thể bóp chết hoặc là thui chột mầm mống sáng tạo của người nghệ sĩ. Bản nhạc Pizzicato Việt Nam của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc là một ví dụ. Trong khi tác giả và một số nhạc công của Dàn nhạc Giao hưởng quốc gia Việt Nam khẳng định là chơi được thì một số thành viên Hội đồng nghệ thuật của Hội Nhạc sĩ Việt Nam lại khẳng định "không thể chơi được"? Sau đó, Pizzicato Việt Nam đã vang lên giữa trời Tây mà tác giả Vương Toàn Lâm đã viết: “ Đó là buổi biểu diễn của dàn nhạc thính phòng với sự tham gia của các nhạc công của Tây Ban Nha, El Salvador và Việt Nam cùng tác phẩm Pizzicato của nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc”. Sự đón nhận của công chúng yêu nhạc Tây Ban Nha đối với Pizzicato Việt Nam như thế nào? Tác giả Vương Toàn Lâm, cho biết: “Khi những hợp âm cuối cùng của tác phẩm này vang lên tại phòng hòa nhạc Plaza de Castilla cũng là lúc chúng tôi được nhận những lời chúc mừng hồ hởi thể hiện sự đón nhận và cũng không kém phần ngạc nhiên về một tác phẩm khí nhạc Việt Nam độc đáo, hiệu quả sân khấu mà vẫn có được một ngôn ngữ âm nhạc chung cho những nhạc công ở khắp mọi nơi trên thế giới”.
Bởi vậy, đã đến lúc các cơ quan chức năng cần phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phê bình âm nhạc ngang tầm với sự phát triển nền âm nhạc Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đồng thời cũng cần tăng cường công tác gíao dục đức dục cho những nhà lý luận phê bình trong tương lai, tránh tình trạng quá đề cao về mặt chuyên môn nghiệp vụ mà xem nhẹ đạo đức nghề nghiệp. Đó không chỉ là nhiệm vụ mà còn là một nhu cầu của những người làm âm nhạc chuyên nghiệp hiện nay. Do đó, tôi hoàn toàn nhất trí với cách đặt vấn đề và những lập luận của tác giả Tố Mai, trong đó, cần phải quan tâm đặc biệt đến công tác đào tạo âm nhạc nói chung, những người làm công tác phê bình âm nhạc nói riêng. Tình hình công tác đào tạo âm nhạc hiện nay đang vô cùng phức tạp và lỏng lẻo, nếu không muốn gọi là tùy tiện, đặc biệt là đối với các trường VHNT của các địa phương.