Đồng chí Z
Bạn Minh Hương và Thuỷ Nguyên có ý kiến ngược hẳn với bạn Minh Hằng và bác ...Đến bài viết
thuy duong
nhac hay nhay cung dep verry good
Đến bài viết
thanhson
bài hát rất hay, ai nghe cũng nao nao một cảm nghĩ nhớ thương xa vời man mác một ...Đến bài viết
Thuy nguyen
Tôi ủng hộ ý kiến của bạn Minh Hương. Tài năng của nhạc sĩ Lê Minh Sơn và ...Đến bài viết
Minh Hằng
1. Nhiệm vụ của cơ quan chức năng mà cụ thể là các nhà quản lí âm nhạc ...Đến bài viết
Viettq
Thưa bác Nguyễn Bá Tấu, có thể bác hiểu sai ý tôi. Tôi chỉ không cho rằng ...Đến bài viết
Nguyễn Hoà
Viết sai ngữ pháp tiếng Việt rồi, NLH ơi.
Dòng chữ dưới đây này chưa phải ...Đến bài viết
Minh Hằng
Anh A có trình độ trên đại học chính qui. Anh B trình độ đại học tại chức, ...Đến bài viết
Nguyễn Thị Khuyên
Bài hát rất tuyệt. Hoài niệm, thúc giục, khắc khoải, giai điệu nhanh nhưng ...Đến bài viết
Minh Hải
Tôi nghĩ không nhất thiết làm tất cả những cái như ông này gợi ý,nhưng cũng ...Đến bài viết
Kỉ niệm 10-10:
PHẬT CA TRONG LÒNG HÀ NỘI
Nguyễn Thị Minh Châu
Cái may mắn được nghe trực tiếp “nhạc sống” của Khai giác trong Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2008 tại Hà Nội không đến với tôi, nên ấn tượng đầu tiên ở tôi về tác phẩm giao hưởng hợp xướng đồ sộ này không phải cảm giác choáng ngợp trước một kỉ lục guiness Việt Nam: dài nhất (40 phút) và đông người diễn nhất (500 người, trong đó có 150 nhạc công, 300 diễn viên hợp xướng và 50 vị chư tăng, chưa tính nhạc trưởng là chính tác giả!).

Trước khi “ngắm nghía” tổng phổ, nghe và xem nhiều lần qua CD và DVD, tôi đã phần nào hình dung ra diện mạo “Phật ca” qua giọng hát và tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo. Đó là một màn “tự biên tự diễn” ngay tại căn nhà ven hồ Hoàng Cầu, trên chính chiếc piano mà từ đó người đàn ông nhỏ nhắn đã tạo nên đứa con hoành tráng. Cách thưởng thức từ từ từng chút một, hơi khác thường so với thính giả thông thường, đã cho tôi thấu dần, ngấm dần cuộc hành trình kì bí của tâm thức, dựa theo tích chuyện bảy tuần nhập thiền hóa Phật của đức ngài Thích Ca Mâu Ni.
Sau hồi chuông chùa báo chúng, cuộc tham thiền nhập định bắt đầu bằng câu niệm “Nam mô” - nét nhạc chủ đạo (leitmotiv) của chương I Thiền quán tưởng. Trang nghiêm, tôn kính, thoát tục như những bản Thánh ca, nhưng hoàn toàn khác với không gian vòi vọi theo cấu trúc nhà thờ phương Tây, bức tranh Á Đông không khép kín mà hướng ra thiên nhiên rộng mở, dàn trải theo những thang âm ngũ cung thuần khiết và đầy ngẫu hứng trên những chồng âm đa sắc đa màu. Bất ngờ là nhà soạn nhạc vốn ưa sự trúc trắc ít tính giai điệu giờ đây lại cất tiếng hát những câu nhạc gần gũi như âm điệu quê nhà.
Triền miên vê đều (trémolo) hoặc run rảy láy rền (trille) những quãng cực nhỏ là những sợi âm thanh thường gặp ở Nguyễn Thiên Đạo đã dệt thành tấm mạng căng chùng uốn lượn theo gió. Bốn bè hợp xướng xôn xao những lời ca khác nhau trong cuộc kiếm tìm “con mắt thứ ba” sáng tỏ hơn hai mắt thường, ấy là con mắt của nhận thức. Rồi hợp xướng với kĩ thuật hát không lời (vocalise) thế vai dàn nhạc tạo nền cho lời thơ thầm thì như từ thẳm sâu tâm thức cất lên:
Mênh mông bể khổ là lí trí
Cửa Phật từ bi tỉnh thức lòng...
Chuông chùa lại thỉnh đưa dẫn nét nhạc “Nam mô” trở về, khép lại tuần đầu tiên nơi cửa Phật.
Chương II Tử mở ra một cảnh tượng bí hiểm, như cái chết luôn là điều bí hiểm đối với con người. Cái chết nghiệt ngã giáng xuống những khoảnh lặng bất ngờ sau mỗi đỉnh cao âm lượng. Đối mặt với số phận, con người phải vượt qua biển âm thanh rùng rợn, lúc ì ầm sóng xa, lúc thất thanh gió hú. Như có sự hoán đổi trong âm sắc: dàn dây rì rầm như tiếng người, còn giọng người lại giống một nhạc cụ đặc biệt phát ra những chuỗi nguyên âm ma quái “ơ, o, ô, u, ư, i, a, e, ê”.
Cả tấn trò đời gói vào chương III Sinh. Nhân gian bên ngoài cửa Phật vẫn ngày ngày buồn vui đảo điên với các khúc: Cuồng - điên khùng trong nghi ngờ và oán hận qua giọng nam cao (tenor) hát “chay” không nhạc đệm; Hỉ - ngợi ca tình bất diệt bằng vẻ trẻ trung của giọng nữ cực cao (soprano coloratura) lảnh lót như chim hót trên những con sóng âm thanh bồng bềnh; Nộ - dữ dằn trong cơn tức giận ở giọng nam trầm (basse) bị kích động thêm bằng âm thanh sắc nhọn của đồng và gõ.
Tính kịch luôn được đẩy cao trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Thiên Đạo không chỉ gợi nhớ đến kĩ thuật kinh điển của opéra, mà ở đây hơn lúc nào hết còn thấy cả sự khích lệ bởi tinh thần âm nhạc sân khấu cổ truyền dân tộc. Chất chèo, chất tuồng đem lại sự chao đảo, phóng khoáng trong cao độ và tiết tấu. Bất an vì những quãng chơi vơi “không thăng không bình” tựa như các bậc “non - già” của tổ tiên, thính giác còn không ngừng bị tác động mạnh bởi những quãng nhảy xa, những cú nhấn lệch và hàng loạt kĩ xảo rung, dồn, nảy hoặc ngắt đột ngột.
Chương IV Trừ tà gầm gào thác đổ, bất tận và bất định trên những nét lướt bán âm của dàn nhạc và những tiếng hú ghê rợn của hợp xướng. Tà khí đâu chỉ có trong thế lực ma quỷ, mà còn thấy ở những cám dỗ nơi trần thế.
Ấn tượng nhất, bất ngờ nhất là sự độc đáo của chương V Thiền nhập định. Không theo nguyên tắc phức điệu châu Âu, mà uyển chuyển và sống động như lối đàn ca ngẫu hứng cổ truyền Việt Nam, một kiểu kết hợp đa tầng rất hiệu quả đã hình thành giữa ngữ điệu của đoàn tăng lữ tụng kinh “Bát nhã”, trên âm sắc và tiết tấu trường canh của mõ chùa càng về cuối càng dồn mau, thêm hai giọng ngân nga đầy mê lực của hai vị chư tăng, cộng với ngữ điệu đọc thơ của giọng nam trầm làm lay động cả tâm can: “Phật ở đâu? Phật ở đâu xin ẩn hiện linh đàn”, và còn phải kể đến sự chuyển động không dứt trên những âm thanh láy vuốt của dàn nhạc để cuối cùng hòa vào âm sắc dịu êm của hợp xướng nữ.
Chương VI Bay lên trữ tình lãng mạn với dàn dây da diết chất ca xướng hiếm thấy trước đây ở tác giả hiện đại này. Những rung cảm từ sâu thẳm tình người dâng lên, sóng âm thanh chập chờn, lan tỏa khắp thinh không, nối dài theo tiếng cồng dội vang. Chuông chùa đã đổ. Đức ngài đã đạt chính quả. Đó là cuộc thăng hoa huyền ảo giữa đất trời giao hòa, ngỡ như thấy lại cảnh rồng gặp mây trong truyền thuyết Thăng Long.
Chương VII Niết bàn trở lại với âm hình chủ đạo “Nam mô” trong không gian rộng mở, hài hòa, linh thiêng. Một cái kết đầy mãnh lực bừng lên trong chuyển động ngược hướng giữa hợp xướng với kèn đồng và bộ gõ. Cõi tâm linh mênh mang, cõi tâm linh bất diệt.
Bản “Phật ca” của một người luôn hướng tới âm nhạc của vũ trụ, âm nhạc của thiên nhiên không hẳn chỉ là thế giới thần tiên ma quỷ, không hẳn chỉ có thiên nhiên thoát tục thiếu vắng con người. Con người trần thế trong vòng sinh tử với đủ mọi hỉ nộ ái ố được khai giác từ những khát vọng rất nhân văn. Vũ trụ, thiên nhiên, tính nhân văn, tính dân tộc... tất cả đều được diễn giải bằng âm sắc và cách pha trộn, sắp đặt theo bảng màu riêng, bí quyết riêng của thầy “phù thủy âm thanh” Nguyễn Thiên Đạo.
Vẫn cách phối khí tương phản gay gắt về cường độ và hòa âm, vẫn những cuộc đối thoại đầy ấn tượng giữa dàn nhạc với hợp xướng hoặc giọng đọc thơ, cũng như cuộc hội ngộ giữa dàn nhạc Tây với nhạc cụ ta, Khai giác còn đi xa hơn trong kì vọng tôn vinh bản sắc Việt. Đó là các yếu tố ít nhiều ở trên đã nhắc tới: âm sắc nhạc cụ gõ dân tộc (cồng, chuông chùa và đặc biệt là mõ chùa), tính kịch mang hơi hướng tuồng và chèo, sự kết hợp nhiều bè độc lập theo chiều ngang trong hòa tấu cổ truyền. Và đáng chú ý hơn cả là cách sử dụng giọng người.
Giọng người ở đây mang nhiều “tính nhạc khí”: cách hát gần với các “ngón” diễn tấu nhạc cụ, lời ca nhiều khi không cần đến ngữ nghĩa, không “tuân thủ” dấu giọng (kiểu như “a di đà Phất”), cứ như chỉ để cảm nhận sắc màu từ cách phát âm. Thực ra khi mượn lời từ bài kệ của Phật tử Ngô Minh Thơm, nhạc sĩ không chủ định phổ thơ, mà để những đoạn thơ cần chuyển tải nội dung được đọc trên nền nhạc. Đây là một cách tôn vinh ngữ điệu tiếng Việt, một ngôn ngữ tự thân đã có giai điệu.
Thêm chứng cứ nữa về sự tôn vinh bản sắc là nét nhạc chủ đạo của chương đầu và cuối với vai trò mở và đóng tác phẩm (khép kín một vòng luân hồi) cũng được định hình từ ngữ điệu tiếng nói: “Nam mô a di đà”.
Màu sắc dân tộc còn đậm thêm nhờ màn tụng kinh của các nhà sư. Tôi chợt liên hệ tới nhận xét của giáo sư Trần Văn Khê về nhạc Phật giáo: mỗi quốc gia, mỗi vùng miền tuy vẫn giữ nguyên tiếng Phạn cổ, nhưng có cách tụng tán riêng theo phong cách âm nhạc truyền thống của mình. Kinh “Bát nhã” của Khai giác quả là rất gần với âm điệu dân ca đồng bằng Bắc bộ. Cao độ mỗi từ được cách điệu hóa theo chữ nhạc của thang âm ngũ cung không có bán âm, từ đó hình thành đường nét chính của giai điệu. Khi cất lên ở nhiều giọng cao thấp khác nhau không chuẩn xác theo kiểu đồng ca một bè (unison), giai điệu “nói như hát” đó đem đến một cách tự nhiên hiệu quả nhiều bè dày đặc quấn quýt, tăng thêm phần mê hoặc cho màn thiền nhập định của chương V.
Bản “Phật ca” sinh ra tại Hà Nội, vang lên lần đầu giữa Thủ đô đã nối tiếp dòng chảy của chuỗi tác phẩm gắn với đất Thăng Long - Hà Nội trong suốt mười năm nay của nhà soạn nhạc Tiên phong: Hồn non nước (1998), Sóng hồn (2000), Sóng nhất nguyên (2002)... Đây cũng là sự tiếp tục một con đường như ông đã “tuyên ngôn”: “Dân tộc đích thực, âm nhạc tiên phong”.
Con đường ấy sẽ còn được nối dài bằng những tác phẩm mới của nhà soạn nhạc chưa hề biết mệt mỏi, vì ở ông chẳng khi nào nguôi ngoai một khát vọng nếu diễn tả ngắn gọn bằng cách mượn lời nhà văn quá cố Nguyễn Minh Châu từng nói: “Đi đến tận cùng Dân tộc, ta sẽ gặp Nhân loại”.
Nghe toàn bộ Khai giác tại đây: chương I-II-III, chương IV-V-VI-VII
Xem trích đoạn: chương VI